Chương 1: Giới thiệu Chương 2: Một số nghiên cứu thực nghiệm trước đây về dự báo phá sản/ kiệt quệ tài chính doanh nghiệp Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương 4: Nội dung và các kết quả nghiên cứu Chương 5: Kết luận 5 CHƯƠNG 2. MỘT SỐ NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM TRƯỚC ĐÂY VỀ DỰ BÁO PHÁ SẢN/KIỆT QUỆ TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP 2.1 Kiệt quệ tài chính và những khó khăn doanh nghiệp gặp phải khi lâm vào kiệt quệ tài chính Theo sách Tài chính doanh nghiệp hiện đại (2007), 1 kiệt quệ tài chính được định nghĩa là xảy ra khi một doanh nghiệp không thể đáp ứng các hứa hẹn với các chủ nợ hay đáp ứng một cách khó khăn. Đôi khi kiệt quệ tài chính đưa đến phá sản. Đôi khi nó chỉ có nghĩa là đang gặp khó khăn, rắc rối.
Kiệt quệ tài chính rất tốn kém. Kiệt quệ tài chính tốn kém khi các mâu thuẫn quyền lợi cản trở các quyết định đúng đắn về hoạt động, đầu tư, tài trợ. Khi một doanh nghiệp gặp khó khăn, kiệt quệ tài chính, cả chủ nợ và các cổ đông đều muốn doanh nghiệp phục hồi, nhưng ở khía cạnh khác, quyền lợi của họ có thể mâu thuẫn nhau. Họ thường có khuynh hướng thực hiện các “ trò chơi” riêng để đảm bảo lợi ích của mình.
Điều này làm phát sinh những chi phí do tình trạng kiệt quệ tài chính gây ra. Chi phí của kiệt quệ tài chính gồm nhiều mục cụ thể như: - Chi phí phá sản: gồm các chi phí trực tiếp như lệ phí tòa án và các chi phí gián tiếp mà doanh nghiệp phải hứa hẹn nhiều hơn để được vay nợ, các chủ nợ đòi hỏi được đền bù trước dưới hình thức các chi trả cao hơn khi doanh nghiệp chưa mất khả năng 1 Trần Ngọc Thơ và cộng sự, 2007. Tài chính doanh nghiệp hiện đại. Thành phố Hồ Chí Minh: NXB Thống kê.
pp 379-393 6 thực hiện nghĩa vụ. Họ đòi hỏi một lãi suất hứa hẹn cao hơn. Điều này lại càng gây khó khăn cho doanh nghiệp đang lâm vào kiệt quệ tài chính. Ngoài ra, doanh nghiệp còn phải chịu những chi phí khác như sự khó khăn trong việc điều hành một công ty đang kiệt quệ, phá sản; các rắc rối về mặt pháp lý của việc đang trong quá trình phá sản thường phá hỏng các nỗ lực của ban giám đốc nhằm ngăn chặn việc kinh doanh của doanh nghiệp không tồi tệ thêm, chẳng hạn như khi doanh nghiệp muốn bán bớt một ít tài sản để trang trải nhưng bị chủ nợ ngăn chặn, còn vốn nhưng không thể sử dụng.
- Chi phí kiệt quệ tài chính nhưng chưa phá sản: là mâu thuẫn quyền lợi giữa trái chủ và cổ đông khi doanh nghiệp gặp khó khăn. Khi doanh nghiệp gặp khó khăn, cả chủ nợ lẫn cổ đông đều muốn doanh nghiệp phục hồi, nhưng quyền lợi làm họ mâu thuẫn nhau trong những quyết định về hoạt động, đầu tư. Họ thường thưc hiện các “ trò chơi”- ý đồ riêng nhằm đảm bảo quyền lợi của mình. Các trò chơi này sẽ đưa đến các chi phí kiệt quệ tài chính như: trò chơi chuyển dịch rủi ro, từ chối góp vốn cổ phần, thu tiền bỏ chạy, kéo dài thời gian, thả mồi bắt bóng.
Những “trò chơi” này sẽ khiến kiệt quệ tài chính của doanh nghiệp ngày càng trầm trọng và có thể đi đến phá sản. Một điều đáng lưu ý là các chi phí liên quan đến kiệt quệ tài chính càng nghiêm trọng hơn đối với những công ty có nhiều tài sản vô hình. Điều này được hiểu là do các tài sản vô hình gắn với tình hình sức khỏe doanh nghiệp sẽ mất giá trị nếu công ty rơi vào tình trạng phá sản. Dự báo kiệt quệ/ phá sản là quan trọng đối với những công ty này.
Để khắc phục tình trạng doanh nghiệp phá sản, ngừng hoạt động hàng loạt do làm ăn thua lỗ kéo dài, kiệt quệ tài chính rất cần sự chung sức của cả các doanh nghiệp 7 và Nhà nước, các Bộ, ngành. Theo Tổng cục thống kê thì: 2 “Đánh giá chung về các yếu tố cản trở nhiều nhất tới sản xuất kinh doanh hiện nay, các doanh nghiệp mong muốn Nhà nước, các Bộ, ngành tập trung hỗ trợ các doanh nghiệp cải thiện các yếu tố chủ yếu sau: ổn định và hỗ trợ lãi suất vay vốn, cải tiến và tạo điều kiện để doanh nghiệp tiếp cận vốn thuận lợi hơn, ổn định kinh tế vĩ mô, ổn định giá điện, cải thiện và phát triển cơ sở hạ tầng, tập trung nguồn vốn và hỗ trợ lãi suất vay vốn cho khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa, kiềm chế lạm phát, hỗ trợ tiêu thụ sản phẩm trong nước và xuất khẩu, hỗ trợ phát triển và đổi mới công nghệ để phát triển sản xuất kinh doanh, cải thiện môi trường pháp lý và hiệu quả giải quyết tranh chấp, phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, cải tiến thuế suất và công tác quản lý thuế,. Tuy nhiên, cùng với những mong nuốn đó, trước hết các doanh nghiệp phải tự nỗ lực cứu mình thông qua những chiến lược kinh doanh hợp lý, tránh đầu tư tràn lan, dàn trải, sử dụng vốn sai mục đích và phải nỗ lực tìm một hướng đi phù hợp. Nghiên cứu về dự đoán phá sản, kiệt quệ tài chính là cần thiết cho nhiều chủ thể trong nền kinh tế.
- Bản thân các doanh nghiệp cần biết “ngưỡng” bị phá sản của mình để có chiến lược lèo lái con thuyền doanh nghiệp vượt qua khó khăn. Việc dự đoán được nguy cơ lâm vào tình trạng kiệt quệ/phá sản có thể xem như là một cảnh báo để doanh nghiệp có thể lập kế hoạch kinh doanh phù hợp và đưa ra những điều chỉnh hợp lý làm gia tăng giá trị doanh nghiệp, hạn chế tối thiểu nguy cơ lâm vào tình trạng phá sản. Nếu P tính toán được có giá trị lớn hơn 0.5, doanh nghiệp cần kiểm tra lại tình hình tài chính của mình đang yếu kém ở điểm nào để có phương án xử lý kịp thời như: rà soát lại các lĩnh vực hoạt động, thu hẹp lĩnh vực hoạt động có hiệu quả kém, cơ cấu lại cấu trúc tài chính, giảm ứ động vốn,. 2 Trang thông tin điện tử của Tổng cục thống kê.
Báo cáo kết quả rà soát số lượng doanh nghiệp năm 2012. Website: http://www. 8 - Các đối tác, nhà đầu tư cần một chỉ số giúp họ dự đoán tình hình tài chính của doanh nghiệp mà họ đầu tư để có phản ứng kịp thời với đồng vốn mà họ đã bỏ ra. Khi một nhà đầu tư bỏ vốn ra đầu tư vào một doanh nghiệp, chỉ tiêu về lợi nhuận luôn được đặt lên hàng đầu vì đó là cơ sở chính để đánh giá khả năng sinh lời của đồng vốn mà nhà đầu tư đã bỏ ra.
Tuy nhiên, với tình hình kinh tế nhiều biến động việc một doanh nghiệp bị lỗ trong một thời gian là rất dễ xảy ra. Việc tính toán được một chỉ số tổng hợp về dự đoán kiệt quệ tài chính doanh nghiệp sẽ giúp rất nhiều cho nhà đầu tư trong việc quyết định nên tiếp tục đầu tư hay không. Nếu xác suất kiệt quệ/ phá sản P<0,5 có thể thấy khả năng kiệt quệ tài chính của doanh nghiệp còn thấp, nhà đầu tư nên duy trì nguồn vốn vì mặc dù có khó khăn nhưng doanh nghiệp chưa đến mức kiệt quệ/ phá sản và nếu cùng doanh nghiệp vượt qua giai đoạn này nhà đầu tư sẽ được đền bù. Tuy nhiên, nếu P>0,5 nhà đầu tư nên xem xét thêm một số yếu nữa để xem có nên rút vốn hay không vì khả năng kiệt quệ/ phá sản là đáng quan tâm.
- Các ngân hàng cũng cần có một chỉ số để đánh giá tình hình tài chính của doanh nghiệp trước khi đưa ra những quyết định tín dụng. Những năm gần đây, với tình hình nợ xấu nghiêm trọng các ngân hàng, các doanh nghiệp khó khăn hơn trong tiếp cận nguồn vốn vay. Điều này gây thiệt hại cho cả 2 phía doanh nghiệp và ngân hàng. Một chỉ số dự báo kiệt quệ/phá sản sẽ cho các ngân hàng thêm một khía cạnh thông tin trong việc thẩm định các hồ sơ vay vốn của doanh nghiệp.
Xét về khía cạnh nền kinh tế thị trường, chuyện doanh nghiệp giải thể, phá sản, ngừng hoạt động là chuyện bình thường, sẽ thanh lọc bớt được những doanh nghiệp làm ăn kém hiệu quả. Nhưng cũng cần nhìn nhận rằng, việc có quá nhiều doanh nghiệp phá sản trong những năm gần đây là rất đáng quan ngại. Bởi đi theo việc doanh nghiệp phá sản, giải thể, kiệt quệ tài chính sẽ là một loạt người lao động mất việc làm, bị nợ lương, thu nhập bấp bênh; là rất nhiều doanh nghiệp của các công ty đối tác với công ty phá sản bị nợ tiền và cũng rơi vào khó khăn tài chính, là các ngân hàng với hàng đống 9 nợ xấu, là nhà nước không thu được thuế gây bội chi ngân sách nghiêm trọng, là nền kinh tế đất nước lâm vào suy thoái. Không phải công ty nào gặp khó khăn về tài chính cũng đều đi đến phá sản.
Nếu doanh nghiệp có chiến lược đúng đắn, phản ứng kịp thời, xoay xở được các khoản nợ doanh nghiệp có thể hoãn việc phá sản lại nhiều năm. Cuối cùng, doanh nghiệp có thể phục hồi, trả hết nợ và thoát được cảnh phá sản. Dự báo được “ ngưỡng” kiệt quệ tài chính góp một phần giúp doanh nghiệp đưa ra những giải pháp hợp lý cho tình hình tài chính, tránh được những phát sinh từ chi phí kiệt quệ tài chính có thể kéo tình hình doanh nghiệp khó khăn hơn.2 Các nghiên cứu thực nghiệm trước đây về dự báo phá sản/ kiệt quệ tài chính công ty 2.1 Nghiên cứu của William Beaver (1966) Nghiên cứu của William Beaver năm 1966 đã đặt những nền tảng đầu tiên về dự báo khả năng phá sản/kiệt quệ tài chính của các công ty. Nghiên cứu đã sử dụng phương pháp đánh giá từng chỉ số tài chính dựa trên kiểm định t trong phân tích đơn biến nhằm đưa ra những tiêu chí dự báo phá sản doanh nghiệp.
Sử dụng các tỷ số tài chính được rút ra từ việc nghiên cứu thực nghiệm 79 doanh nghiệp phá sản và một số lượng tương ứng các doanh nghiệp không phá sản trong thời gian 10 năm (1954 – 1964). Nghiên cứu của Beaver chỉ ra rằng tỷ lệ tiền mặt/tổng nợ phải trả là chỉ tiêu quan trọng nhất trong việc dự báo dấu hiệu kiệt quệ tài chính và phá sản doanh nghiệp. Chỉ tiêu này phản ánh tính cân đối giữa khả năng tạo ra tiền của doanh nghiệp với số nợ mà doanh nghiệp phải thanh toán, và do đó sẽ thể hiện rõ ràng nhất khả năng thanh toán của doanh nghiệp.