CHƯƠNG I: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VỀ CƠ CẤU VỐN 1.1 Cơ sở lý thuyết về cơ cấu vốn 1.1 Cơ cấu vốn và đòn bẩy tài chính 1.1 Cơ cấu vốn a) Cơ cấu vốn Vốn là điều kiện tiên quyết để cho một doanh nghiệp hay một tổ chức kinh tế có thể ra đời và hoạt động. Mỗi loại nguồn vốn đều có chi phí sử dụng nhất định. Do vậy, để có thể huy động, quản lý và sử dụng có hiệu quả nguồn vốn của mình, doanh nghiệp cần phải xem xét, nghiên cứu chi phí của từng nguồn vốn cụ thể, từ đó xác định cho mình một cơ cấu vốn phù hợp trong từng điều kiện, từng giai đoạn cụ thể của doanh nghiệp. Nếu xét từ góc độ quyền sở hữu thì vốn kinh doanh của doanh nghiệp được hình thành từ hai nguồn: nguồn vốn chủ sở hữu và các khoản nợ vay.
Theo Trần Ngọc Thơ (2004) [24] định nghĩa: “Cơ cấu vốn là thuật ngữ tài chính nhằm mô tả quan hệ về tỷ trọng giữa nợ và vốn chủ sở hữu”. Nguyễn Xuân Thành (2007) [20]: Cơ cấu vốn của một doanh nghiệp thể hiện tỷ trọng tương đối của vốn chủ sở hữu và nợ vay trong tổng nguồn vốn. Như vậy khi đề cập đến cơ cấu vốn của doanh nghiệp ta có thể hiểu đó là tỷ lệ giữa thành phần cấu thành nguồn vốn trên tổng nguồn vốn của doanh nghiệp, có thể là vốn chủ sở hữu trên tổng nguồn vốn hoặc tổng nợ trên tổng nguồn vốn. Để thống nhất về định nghĩa trong bài luận văn thì cơ cấu vốn trong doanh nghiệp được hiểu là tỷ lệ nợ vay trên tổng nguồn vốn của doanh nghiệp, vì thông thường khoản phải trả chiếm khá lớn trong phần nợ phải trả của các doanh nghiệp Việt Nam.
Cơ cấu nguồn vốn của doanh nghiệp thường biến động trong các chu kỳ kinh doanh và có thể ảnh hưởng tích cực hay tiêu cực đến lợi ích của chủ sở hữu. Do đó, việc xem xét lựa chọn điều chỉnh cơ cấu vốn tối ưu là một quyết định quan trọng của chủ doanh nghiệp. Gắn kèm với từng loại vốn là một mức rủi ro khác nhau, tỉ lệ nguồn 8 vốn hình thành trong cơ cấu vốn sẽ làm thay đổi nhận thức của nhà đầu tư về mức rủi ro của một doanh nghiệp. b) Huy động vốn của doanh nghiệp Như đã trình bày ở trên, một doanh nghiệp có thể huy động nợ hoặc vốn chủ sở hữu để tài trợ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của mình.
Tùy vào đặc điểm phương thức huy động của từng nguồn vốn này sẽ là cơ sở để các doanh nghiệp lựa chọn xây dựng cho mình một cơ cấu vốn phù hợp. * Nguồn vốn chủ sở hữu: Theo Lưu Thị Hương (2002) [10] nguồn vốn chủ sở hữu là số vốn thuộc sở hữu của chủ doanh nghiệp. Tuỳ theo loại hình doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác nhau mà vốn chủ sở hữu khác nhau (doanh nghiệp Nhà nước thì chủ sở hữu là Nhà nước; doanh nghiệp cổ phần thì chủ sở hữu là những người góp vốn, vốn cổ phần…). Đối với doanh nghiệp cổ phần, khi doanh nghiệp mới được thành lập thì vốn chủ sở hữu do các thành viên đóng góp và hình thành vốn điều lệ.
Khi doanh nghiệp hoạt động thì nhu cầu vốn phát sinh, ngoài vốn điều lệ còn có một số nguồn vốn khác cũng thuộc nguồn vốn chủ sở hữu bao gồm: vốn cổ phần, lợi nhuận không chia, các quỹ của doanh nghiệp (bao gồm: quỹ đầu tư phát triển, quỹ dự phòng tài chính…). Trong đó, lợi nhuận không chia và các quỹ của doanh nghiệp đều thuộc nguồn vốn chủ sở hữu bên trong doanh nghiệp. Do vậy, khi xem xét nguồn vốn chủ sở hữu chỉ tập trung vào nguồn vốn do huy động từ việc phát hành cổ phiếu. Cổ phiếu là một loại chứng khoán thể hiện quyền sở hữu vĩnh viễn đối với doanh nghiệp.
Có hai loại cổ phiếu: cổ phiếu thường và cổ phiếu ưu đãi và người sở hữu cổ phiếu gọi là cổ đông. Cổ đông sở hữu cổ phiếu thường được hưởng chi trả cổ tức với tỷ lệ doanh nghiệp cam kết khi phát hành và thu nhập thặng dư nếu doanh nghiệp kinh doanh có lãi hơn dự kiến. Cổ phiếu ưu đãi là cổ phiếu có đặc tính ưu đãi hơn cổ phiếu thường như ưu đãi về quyền bỏ phiếu, ưu tiên trong chi trả cổ tức…Do vậy cổ phiếu ưu đãi phát hành chủ 9 yếu cho các người sáng lập hay đối tượng đặc biệt để tránh nguy cơ thôn tính hay sát nhập doanh nghiệp. Ngoài ra, cổ tức của cổ phiếu ưu đãi được chi trả cố định – trong trường hợp doanh nghiệp hoạt động không đủ để trả cổ tức ưu đãi thì phải có trách nhiệm chi trả vào năm sau nếu có lãi.
Cổ phiếu của doanh nghiệp có giá trị có thể được trao đổi mua bán trên thị trường mở hoặc thị trường giao dịch tập trung (TTCK). Giá cổ phiếu trên thị trường liên tục thay đổi tùy thuộc vào quan hệ cung-cầu, sự sẵn lòng của nhà đầu tư và các yếu tố vĩ mô khác. Đối với thị trường tài chính vận hành hiệu quả, thị trường cổ phiếu là nơi giao dịch các cổ phần được xem như một công cụ để đánh giá giá trị các doanh nghiệp. Theo Chuẩn mực kế toán Việt Nam (2006) [26]: Cổ tức trả cho cổ đông là phần lợi nhuận sau khi trừ thuế thu nhập doanh nghiệp, nên việc tăng vốn bằng vốn chủ sở hữu sẽ tạo khả năng tự chủ tài chính cho doanh nghiệp (nếu doanh nghiệp không có lãi thì không phải trả cổ tức cho các cổ đông), nhưng đồng thời doanh nghiệp không được hưởng miễn trừ thuế thu nhập do việc trả cổ tức là từ lợi nhuận sau thuế.
Đứng trên góc độ của nhà đầu tư, đầu tư cổ phiếu doanh nghiệp sẽ rủi ro hơn về kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, chính vì thế họ kỳ vọng lợi nhuận thu lại cao hơn lãi suất cho vay nợ (gửi tiền ngân hàng hoặc mua trái phiếu chính phủ), nên chi phí sử dụng vốn cổ phần cao hơn sử dụng nợ vay. * Các khoản nợ vay Nguyễn Minh Kiều (2007) [17]: Một khoản nợ được tạo ra khi một người cho vay đồng ý cho người đi vay vay một lượng tài sản nhất định, và người cho vay thường yêu cầu người đi vay trả lãi trong thời gian vay. Trong trường hợp này, người đi vay sẽ phải cam kết trả lãi thường xuyên và trả nợ gốc, nhưng trách nhiệm này là hữu hạn, khi khoản nợ kết thúc. Vì vậy, người cho vay (chủ nợ) không được xem là chủ doanh nghiệp nên thường thì họ không có quyền biểu quyết hay các quyền khác trong nội bộ doanh nghiệp.
Dựa vào tính chất kỳ hạn, nợ vay của doanh nghiệp được chia thành nợ ngắn hạn và nợ dài hạn. 10 Nợ ngắn hạn Theo Luật kế toán Việt Nam (2003) [26]: Nợ ngắn hạn là khoản nợ vay có thời hạn dưới một năm, bao gồm các khoản nợ ngắn hạn ngân hàng, các khoản phải trả nhà cung cấp, các khoản phải thanh toán cho cán bộ công nhân viên, các khoản phải nộp ngân sách Nhà nước và khoản vay ngắn hạn khác. Theo nguyên tắc giảm thiểu rủi ro trong thanh toán thì nợ ngắn hạn được huy động để bổ sung nhu cầu vốn lưu động của doanh nghiệp, đầu tư vào tài sản ngắn hạn có vòng quay vốn ngắn. ¾ Vay ngắn hạn ngân hàng Vay ngắn hạn ngân hàng thường được sử dụng trong trường hợp doanh nghiệp thiếu hụt vốn tạm thời để đáp ứng nhu cầu chi trả cho doanh nghiệp.
Sự thiếu hụt này có thể do sự chênh lệch về thời gian và doanh số giữa dòng tiền vào (tiền thu bán hàng) và dòng tiền ra (tiền đầu tư vào tài sản) tại doanh nghiệp. Do đó, nhu cầu tài trợ ngắn hạn cho doanh nghiệp cũng chia 2 loại: nhu cầu tài trợ ngắn hạn thường xuyên (do đặc điểm luân chuyển vốn của doanh nghiệp) và nhu cầu tài trợ ngắn hạn thời vụ (do đặc điểm thời vụ của ngành sản xuất kinh doanh). Hiện nay các ngân hàng cấp tín dụng ngắn hạn (vay ngắn hạn) cho các doanh nghiệp bằng hai phương pháp phổ biến: cho vay theo món và cho vay theo hạn mức. Thông thường, vay ngắn hạn có điều kiện vay tương đối đơn giản và lãi suất vay thấp hơn so với vay dài hạn, tuy nhiên trên thực tế chi phí tiếp cận vốn vay (chi phí giao dịch) đẩy chi phí vay vốn ngắn hạn tăng lên.
¾ Tín dụng nhà cung cấp (tín dụng thương mại) Khác với tín dụng ngân hàng, tín dụng thương mại là nguồn vốn được hình thành trên cơ sở hàng hóa – có nghĩa là khi bên bán và bên mua đã thỏa thuận được các điều kiện trong hợp đồng, bên bán đồng ý cho bên mua trả chậm lại tiền mua hàng. Trên cơ sở đó, bên mua không phải trả chi phí (như lãi suất vay), tuy nhiên không phải doanh nghiệp nào cũng có thể tiếp cận với nguồn vốn này. Vì khi nhà cung cấp cấp tín dụng cho doanh nghiệp, họ phải đối mặt với rủi ro không thu hồi được nợ, cũng như chi phí đòi nợ, do vậy chỉ những doanh nghiệp chứng minh được tình 11 hình tài chính lành mạnh và có khả năng trả nợ thì mới tiếp cận được nguồn vốn này. ¾ Các khoản phải nộp Nhà nước Theo Luật doanh nghiệp (2005) [8]: các doanh nghiệp đều phải nộp những khoản thuế theo quy định của pháp luật Nhà nước ban hành bao gồm: thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế tài nguyên, thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu, tiền thu từ việc sử dụng vốn ngân sách (đối với doanh nghiệp sử dụng vốn từ ngân sách Nhà nước cấp – doanh nghiệp Nhà nước), thuế thu nhập doanh nghiệp.
Các khoản phải nộp Nhà nước là thuế và các loại phí mà doanh nghiệp phải nộp Nhà nước nhưng doanh nghiệp chưa nộp. Các doanh nghiệp sử dụng nguồn vốn này trong trường hợp gặp khó khăn về tài chính, vì đây là nguồn vốn không có chi phí nhưng khi tận dụng nó uy tín doanh nghiệp bị giảm sút, làm tăng sự kiểm tra giám sát của cơ quan quản lý Nhà nước. Trên thực tế, các doanh nghiệp sẽ tìm đến hình thức huy động vốn khác linh hoạt hơn và không ảnh hưởng đến uy tín doanh nghiệp. Nợ dài hạn Đây là nguồn vốn vay quan trọng của doanh nghiệp để mua sắm tài sản cố định hay các hoạt động đầu tư dài hạn của doanh nghiệp.
Ở Việt Nam hiện nay các doanh nghiệp có thể huy động nguồn vốn này qua hai kênh: (1) vay tín dụng trung và dài hạn của các tổ chức tín dụng (ngân hàng); (2) phát hành trái phiếu doanh nghiệp.