Hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính tại Lữ đoàn 242 Quân khu 3 theo đề án đổi mới

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính tại Lữ đoàn 242 Quân khu 3, áp dụng đề án đổi mới quản lý tài chính hiệu quả.

Chuyên ngành

Quản lý kinh tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2022

110
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Quản lý tài chính và cơ chế quản lý tài chính

Quản lý tài chính là một khâu quan trọng trong quản lý kinh tế, đặc biệt trong các đơn vị dự toán quân đội. Cơ chế quản lý tài chính tại Lữ đoàn 242 - Quân khu 3 được xây dựng dựa trên các nguyên tắc và chế độ quản lý tài chính của Nhà nước và Bộ Quốc phòng. Mục tiêu chính là đảm bảo các nguồn tài chính được sử dụng hiệu quả, tiết kiệm và đúng mục đích. Đề án đổi mới cơ chế quản lý tài chính được triển khai từ năm 2020 nhằm nâng cao chất lượng quản lý tài chính, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ mới của quân đội.

1.1. Khái niệm và vai trò của quản lý tài chính

Quản lý tài chính trong quân đội là quá trình tổ chức, điều hành và kiểm soát các nguồn tài chính để đảm bảo hoàn thành nhiệm vụ được giao. Tài chính quân đội bao gồm các quỹ tiền tệ được hình thành từ ngân sách quốc phòng và các nguồn thu khác. Vai trò của quản lý tài chính là đảm bảo sử dụng hiệu quả các nguồn lực, tuân thủ chính sách và chế độ tài chính của Nhà nước.

1.2. Cơ chế quản lý tài chính trong quân đội

Cơ chế quản lý tài chính tại Lữ đoàn 242 được xây dựng dựa trên các quy định của Nhà nước và Bộ Quốc phòng. Cơ chế này bao gồm các quy trình lập dự toán, chấp hành và quyết toán ngân sách. Đề án đổi mới cơ chế quản lý tài chính tập trung vào việc nâng cao hiệu quả quản lý, ứng dụng công nghệ thông tin và đào tạo đội ngũ cán bộ tài chính.

II. Thực trạng quản lý tài chính tại Lữ đoàn 242 Quân khu 3

Thực trạng quản lý tài chính tại Lữ đoàn 242 giai đoạn 2019-2021 cho thấy những kết quả đạt được và những hạn chế cần khắc phục. Quản lý ngân sách được thực hiện theo quy trình lập dự toán, chấp hành và quyết toán. Tuy nhiên, việc quản lý tài chính vẫn gặp nhiều khó khăn do đặc thù địa bàn và tình hình dịch bệnh Covid-19. Đề án đổi mới cơ chế quản lý tài chính đã tác động tích cực đến công tác quản lý tài chính tại đơn vị.

2.1. Lập dự toán và chấp hành ngân sách

Lập dự toán ngân sách tại Lữ đoàn 242 được thực hiện dựa trên nhu cầu thực tế và khả năng ngân sách được cấp. Chấp hành ngân sách được thực hiện nghiêm ngặt theo quy định, đảm bảo các khoản chi tiêu đúng mục đích và tiết kiệm. Tuy nhiên, việc lập dự toán vẫn còn một số bất cập do thiếu thông tin và sự biến động của tình hình kinh tế.

2.2. Quyết toán và kiểm tra tài chính

Quyết toán ngân sách được thực hiện hàng năm, đảm bảo minh bạch và chính xác. Kiểm tra tài chính được thực hiện thường xuyên để đảm bảo tuân thủ các quy định về quản lý tài chính. Tuy nhiên, công tác kiểm tra vẫn còn hạn chế do thiếu nhân lực và trang thiết bị.

III. Giải pháp hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính

Giải pháp hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính tại Lữ đoàn 242 tập trung vào việc nâng cao chất lượng quản lý, ứng dụng công nghệ thông tin và đào tạo đội ngũ cán bộ tài chính. Đề án đổi mới cơ chế quản lý tài chính đã đề ra các giải pháp cụ thể nhằm đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ mới của quân đội.

3.1. Nâng cao chất lượng quản lý tài chính

Nâng cao chất lượng quản lý tài chính được thực hiện thông qua việc hoàn thiện quy trình lập dự toán, chấp hành và quyết toán ngân sách. Ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý tài chính giúp nâng cao hiệu quả và minh bạch trong công tác quản lý.

3.2. Đào tạo và phát triển đội ngũ cán bộ tài chính

Đào tạo và phát triển đội ngũ cán bộ tài chính là một trong những giải pháp quan trọng nhằm nâng cao năng lực quản lý tài chính. Lữ đoàn 242 cần tăng cường đào tạo chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ tài chính để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ mới.

13/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CƠ CHẾ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH Ở ĐƠN VỊ DỰ TOÁN QUÂN ĐỘI 1. Tài chính ở đơn vị dự toán quân đội 1. Khái niệm a) Đơn vị dự toán quân đội Theo Từ điểm Bách khoa quân sự Việt Nam thì: “Đơn vị dự toán quân đội là những đơn vị quân đội mà nguồn kinh phí hoạt động chủ yếu do ngân sách nhà nước đảm bảo, thực hiện chi tiêu ngân sách nhằm hoàn thành nhiệm vụ chính trị của Đảng và Nhà nước giao, thực hiện công tác kế toán và quyết toán theo quy định của Bộ Tài chính và Bộ Quốc phòng. Như vậy, đơn vị dự toán quân đội trước hết là đơn vị được thụ hưởng ngân sách nhà nước là chủ yếu; sau đó theo quy định về phân cấp ngân sách, đơn vị dự toán cấp trên giao dự toán ngân sách cho đơn vị cấp dưới trực thuộc” [24].

Theo Điều 6, Nghị định số 165/2016/NĐ-CP ngày 24/12/2016 của Chính phủ, các đơn vị DTNS thuộc BQP bao gồm: - Bộ Quốc phòng là ĐVDT cấp 1, quan hệ trực tiếp với Bộ Tài chính. - Bộ Tổng tham mưu, Tổng cục, Quân khu, quân đoàn, quân chủng, binh chủng, Bộ Tư lệnh Bộ đội biên phòng, Bộ Tư lệnh Thủ đô, Bộ Tư lệnh 86, Cảnh sát biển Việt Nam, Ban Cơ yếu chính phủ và đơn vị tương đương là ĐVDT cấp 2, quan hệ trực tiếp với ĐVDT cấp 1. - Sư đoàn và tương đương là ĐVDT cấp 3, quan hệ trực tiếp với ĐVDT cấp 2. Riêng học viện, nhà trường và đơn vị tương đương thuộc BQP là ĐVDT cấp 3, được trực tiếp quan hệ với ĐVDT cấp 1.

- Trung đoàn và đơn vị tương đương là ĐVDT cấp 4, quan hệ trực tiếp với ĐVDT cấp 3. Riêng lữ đoàn và trung đoàn độc lập là ĐVDT cấp 4, được quan hệ trực tiếp với ĐVDT cấp 2. b) Tài chính quân đội Theo Giáo trình Lý thuyết tài chính của Học viện Tài chính: "Tài chính là phạm trù kinh tế, phản ánh các quan hệ phân phối của cải xã hội dưới hình thức giá trị. Phát sinh trong quá trình hình thành, tạo lập, phân phối các quỹ tiền tệ của các 6 chủ thể trong nền kinh tế nhằm đạt mục tiêu của các chủ thể ở mỗi điều kiện nhất định" [17].

Theo giáo trình Tài chính dự toán quân đội của Học viện Hậu cần: “Tài chính quân đội là một bộ phận của hệ thống các quan hệ phân phối dưới hình thức giá trị được Nhà nước giao cho Bộ Quốc phòng tổ chức quản lý; dựa vào nó quân đội tham gia việc phân phối sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân bằng cách hình thành và sử dụng các quỹ tiền tệ nhất định nhằm đáp ứng yêu cầu xây dựng quân đội nhân dân, xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh, bảo đảm mọi nhu cầu cho quân đội thực hiện các nhiệm vụ mà Đảng và Nhà nước giao cho” [16, tr12]. Nguồn tài chính của đơn vị dự toán quân đội 1. Nguồn từ chi ngân sách Nhà nước cho lĩnh vực quốc phòng để hình thành nên ngân sách quốc phòng Đây là nguồn NS chủ yếu, cơ bản và quan trọng nhất của NSQP. Quy mô NSQP hàng năm hoàn toàn phụ thuộc vào khả năng chi từ NSNN (NS Trung ương và NS địa phương); đồng thời còn căn cứ vào chủ trương, phương hướng, nhiệm vụ của Quân đội; tổ chức biên chế, quân số, trang bị; chính sách, chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi, giá cả… Nguồn từ chi NSNN cho Quân đội được bảo đảm cấp phát cho các đơn vị, các ngành thuộc hệ thống tổ chức Quân đội thường bao gồm: - Ngân sách quốc phòng thường xuyên: Dùng để bảo đảm cho thực hiện nhiệm vụ và các hoạt động thường xuyên của ĐVDT, như: xây dựng lực lượng, huấn luyện sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu, bảo đảm đời sống chính sách… - Ngân sách Nhà nước giao: Dùng để thực hiện nhiệm vụ mà Nhà nước giao cho Quân đội thực hiện ngoài phạm vi NSQP thường xuyên, như: quản lý hành chính, chi dự trữ nhà nước chuyên ngành; chi cho các công trình, dự án, chi cấp vốn các doanh nghiệp… - Ngân sách Nhà nước đầu tư tập trung cho Quân đội: Nguồn này được nhà nước bảo đảm chủ yếu để đầu tư cho lĩnh vực xây dựng cơ bản trong Quân đội.

- Ngân sách địa phương chi cho công tác quân sự địa phương: Nguồn NS này được ủy ban nhân dân địa phương giao cho các ĐVDT quân đội thuộc các Quân khu, 7 Bộ chỉ huy quân sự tỉnh, thành phố, quận, huyện… nhằm bảo đảm cho công tác quân sự địa phương theo lĩnh vực, nhiệm vụ chi của NS địa phương. Nguồn từ hoạt động sản xuất làm kinh tế - dịch vụ Hàng năm, các ĐVDT trong Quân đội đều có hoạt động sản xuất làm kinh tế, chủ yếu là khai thác các tiềm năng sẵn có về lao động, năng lực chuyên môn nghiệp vụ, kỹ thuật… nên các hoạt động này thường gắn liền với nhiệm vụ của đơn vị. Trên cơ sở tính chất, đặc điểm, nhiệm vụ của đơn vị mà kết hợp khai thác về lao động phổ thông, lao động kỹ thuật, tận dụng trang thiết bị, phương tiện hay tài sản… (trong điều kiện cho phép) tổ chức các loại hình hoạt động có thu thích hợp, nhằm tạo nguồn bổ sung tài chính cho đơn vị. Đơn vị có tổ chức các hoạt động có thu phải tự lo nguồn vốn để hoạt động (bằng nguồn vốn tự có hoặc đi vay); không được dùng kinh phí do ngân sách cấp hoặc các khoản phải thu nộp ngân sách để làm vốn hoặc bù lỗ cho các hoạt động lao động sản xuất, làm kinh tế (trừ những khoản được ngân sách bố trí theo kế hoạch, như hỗ trợ xúc tiến việc làm.

Đơn vị có tổ chức các hoạt động sản xuất kinh doanh dịch vụ phải đạt hiệu quả kinh tế, thực hiện lấy thu bù chi và có lãi; đồng thời phải tính đến hiệu quả về mặt xã hội như quản lý bộ đội, trang bị nghề nghiệp, xây dựng mối quan hệ đoàn kết quân dân, giữ gìn an ninh chính trị trật tự - an toàn xã hội. Đơn vị có các khoản thu phải báo cáo kết quả, phân phối và sử dụng các khoản thu; nộp kịp thời, đầy đủ các khoản phải nộp cho ngân sách theo đúng quy định của Nhà nước và Quân đội. Theo quy định, có những nội dung thu được phép trích bổ sung kinh phí vào NS, dùng để hỗ trợ thêm các hoạt động huấn luyện đào tạo, khen thưởng, phúc lợi xã hội, bảo quản, sửa chữa trang thiết bị tại đơn vị; sửa chữa, xây dựng mới các công trình phổ thông. Khi bổ sung vào kinh phí thì các khoản đó được coi như là một khoản kinh phí thuộc NS; do đó được quản lý chi tiêu, sử dụng theo chế độ quy định.

Đầu năm NS, ĐVDT phải lập DTNS đối với khoản này; khi được cấp trên phê duyệt mới được thực hiện và cuối năm quyết toán với trên. Nguồn tài chính khác 8 Nguồn khác là nguồn không có tính chất thường xuyên hoặc chỉ có tính chất tạm thu chờ nộp trên hay chờ chi trả, bao gồm: tiền vay của đơn vị cấp trên, đơn vị bạn; đảng phí, đoàn phí; giá trị hoặc hiện vật thu được từ việc cho, tặng của các tổ chức, đơn vị và nhân dân. Cơ chế quản lý tài chính ở các đơn vị dự toán quân đội 1. Khái niệm a) Khái niệm quản lý tài chính “Quản lý” là khái niệm rộng, có nhiều quan niệm khác nhau về quản lý.

Thứ nhất, "Quản lý là một quá trình kỹ thuật và xã hội nhằm sử dụng các nguồn, tác động tới hoạt động của con người và tạo điều kiện thay đổi để đạt được mục tiêu của tổ chức" [24]. Thứ hai, "Quản lý là sự tác động chỉ huy, điều khiển, hướng dẫn các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người nhằm đạt tới mục tiêu đã đề ra" [14]. Thứ tư, “Quản lý là sự tác động có tổ chức, có đích hướng của chủ thể lên các khách thể nhằm đạt được mục tiêu đã định trước” [15]. Theo Giáo trình Tài chính quân đội của Học viện Hậu cần (2020) thì: “Tài chính quân đội là một bộ phận của hệ thống các quan hệ phân bổ dưới hình thức giá trị được Nhà nước giao cho Bộ Quốc phòng tổ chức quản lý; dựa vào nó Quân đội tham gia việc phân bổ sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân bằng cách hình thành và sử dụng các quỹ tiền tệ nhất định nhằm đáp ứng yêu cầu xây dựng Quân đội nhân dân, xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh, bảo đảm mọi nhu cầu cho Quân đội thực hiện các nhiệm vụ mà Đảng và Nhà nước giao cho” [16].

Quản lý tài chính là một bộ phận, một khâu của quản lý kinh tế và là khâu quản lý mang tính tổng hợp. Thực chất của quản lý tài chính là các chủ thể quản lý sử dụng các phương pháp, các công cụ tác động tới đối tượng quản lý nhằm thực hiện những mục đích nhất định trong quản lý tài chính. Chủ thể QLTC là chỉ huy đơn vị, cơ quan TC, các ngành, các cấp cùng với sự tham gia quản lý tích cực, dân chủ của mọi cá nhân, tổ chức trong đơn vị. Quản lý tài chính trong các ĐVDT Quân đội là tổng thể các biện pháp tổ chức, điều hành, kiểm tra, phối hợp các mặt hoạt động để đảm bảo tiếp nhận, phân phối, sử 9 dụng các nguồn tài chính theo phương hướng, mục tiêu, kế hoạch xác định nhằm hoàn thành nhiệm vụ tài chính được giao với chất lượng, hiệu quả cao nhất.

Mục tiêu mà quản lý tài chính cần đạt là mọi khoản chi tiêu trong đơn vị đều phải đảm bảo tiết kiệm, đúng chế độ tiêu chuẩn, đúng nội dung và nằm trong dự toán được duyệt, phù hợp với định mức của Nhà nước và BQP. Quá trình quản lý là cách tiến hành các công việc một cách có hệ thống. Do vậy, khi coi quản lý như một quá trình, người ta muốn nhấn mạnh rằng, quá trình quản lý là tổng thể các hoạt động và phương pháp hành động mang tính hệ thống diễn ra trong một thời gian nhất định, theo những quy trình cụ thể để quản lý các hoạt động của một đơn vị.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính tại Lữ đoàn 242 Quân khu 3 theo đề án đổi mới" tập trung vào việc cải tiến và nâng cao hiệu quả quản lý tài chính trong một đơn vị quân đội cụ thể. Với mục tiêu đáp ứng yêu cầu đổi mới, tài liệu đề xuất các giải pháp nhằm tối ưu hóa quy trình quản lý, kiểm soát chi tiêu, và đảm bảo tính minh bạch trong sử dụng ngân sách. Điều này không chỉ giúp đơn vị hoạt động hiệu quả hơn mà còn góp phần vào việc quản lý tài chính công một cách bền vững.

Để mở rộng kiến thức về quản lý tài chính trong các cơ quan nhà nước, bạn có thể tham khảo thêm Luận văn thạc sĩ tài chính ngân hàng hoàn thiện công tác quản lý tài chính tại cục quản lý thị trường tỉnh quảng bình, nghiên cứu về việc hoàn thiện quản lý tài chính tại một cơ quan quản lý thị trường. Ngoài ra, Luận văn thạc sĩ hoàn thiện công tách quản lý thu chi ngân sách nhà nước tại huyện đức linh tỉnh bình thuận cung cấp góc nhìn chi tiết về quản lý ngân sách cấp địa phương. Cuối cùng, Quản lý thanh toán không dùng tiền mặt tại kho bạc nhà nước tỉnh thái nguyên luận văn thạc sĩ là một tài liệu hữu ích để hiểu rõ hơn về xu hướng hiện đại hóa trong quản lý tài chính công.

Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về các phương pháp và thách thức trong quản lý tài chính công, từ đó áp dụng hiệu quả vào thực tiễn.