Chương 1: LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CƠ CHẾ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH Ở ĐƠN VỊ DỰ TOÁN QUÂN ĐỘI 1. Tài chính ở đơn vị dự toán quân đội 1. Khái niệm a) Đơn vị dự toán quân đội Theo Từ điểm Bách khoa quân sự Việt Nam thì: “Đơn vị dự toán quân đội là những đơn vị quân đội mà nguồn kinh phí hoạt động chủ yếu do ngân sách nhà nước đảm bảo, thực hiện chi tiêu ngân sách nhằm hoàn thành nhiệm vụ chính trị của Đảng và Nhà nước giao, thực hiện công tác kế toán và quyết toán theo quy định của Bộ Tài chính và Bộ Quốc phòng. Như vậy, đơn vị dự toán quân đội trước hết là đơn vị được thụ hưởng ngân sách nhà nước là chủ yếu; sau đó theo quy định về phân cấp ngân sách, đơn vị dự toán cấp trên giao dự toán ngân sách cho đơn vị cấp dưới trực thuộc” [24].
Theo Điều 6, Nghị định số 165/2016/NĐ-CP ngày 24/12/2016 của Chính phủ, các đơn vị DTNS thuộc BQP bao gồm: - Bộ Quốc phòng là ĐVDT cấp 1, quan hệ trực tiếp với Bộ Tài chính. - Bộ Tổng tham mưu, Tổng cục, Quân khu, quân đoàn, quân chủng, binh chủng, Bộ Tư lệnh Bộ đội biên phòng, Bộ Tư lệnh Thủ đô, Bộ Tư lệnh 86, Cảnh sát biển Việt Nam, Ban Cơ yếu chính phủ và đơn vị tương đương là ĐVDT cấp 2, quan hệ trực tiếp với ĐVDT cấp 1. - Sư đoàn và tương đương là ĐVDT cấp 3, quan hệ trực tiếp với ĐVDT cấp 2. Riêng học viện, nhà trường và đơn vị tương đương thuộc BQP là ĐVDT cấp 3, được trực tiếp quan hệ với ĐVDT cấp 1.
- Trung đoàn và đơn vị tương đương là ĐVDT cấp 4, quan hệ trực tiếp với ĐVDT cấp 3. Riêng lữ đoàn và trung đoàn độc lập là ĐVDT cấp 4, được quan hệ trực tiếp với ĐVDT cấp 2. b) Tài chính quân đội Theo Giáo trình Lý thuyết tài chính của Học viện Tài chính: "Tài chính là phạm trù kinh tế, phản ánh các quan hệ phân phối của cải xã hội dưới hình thức giá trị. Phát sinh trong quá trình hình thành, tạo lập, phân phối các quỹ tiền tệ của các 6 chủ thể trong nền kinh tế nhằm đạt mục tiêu của các chủ thể ở mỗi điều kiện nhất định" [17].
Theo giáo trình Tài chính dự toán quân đội của Học viện Hậu cần: “Tài chính quân đội là một bộ phận của hệ thống các quan hệ phân phối dưới hình thức giá trị được Nhà nước giao cho Bộ Quốc phòng tổ chức quản lý; dựa vào nó quân đội tham gia việc phân phối sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân bằng cách hình thành và sử dụng các quỹ tiền tệ nhất định nhằm đáp ứng yêu cầu xây dựng quân đội nhân dân, xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh, bảo đảm mọi nhu cầu cho quân đội thực hiện các nhiệm vụ mà Đảng và Nhà nước giao cho” [16, tr12]. Nguồn tài chính của đơn vị dự toán quân đội 1. Nguồn từ chi ngân sách Nhà nước cho lĩnh vực quốc phòng để hình thành nên ngân sách quốc phòng Đây là nguồn NS chủ yếu, cơ bản và quan trọng nhất của NSQP. Quy mô NSQP hàng năm hoàn toàn phụ thuộc vào khả năng chi từ NSNN (NS Trung ương và NS địa phương); đồng thời còn căn cứ vào chủ trương, phương hướng, nhiệm vụ của Quân đội; tổ chức biên chế, quân số, trang bị; chính sách, chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi, giá cả… Nguồn từ chi NSNN cho Quân đội được bảo đảm cấp phát cho các đơn vị, các ngành thuộc hệ thống tổ chức Quân đội thường bao gồm: - Ngân sách quốc phòng thường xuyên: Dùng để bảo đảm cho thực hiện nhiệm vụ và các hoạt động thường xuyên của ĐVDT, như: xây dựng lực lượng, huấn luyện sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu, bảo đảm đời sống chính sách… - Ngân sách Nhà nước giao: Dùng để thực hiện nhiệm vụ mà Nhà nước giao cho Quân đội thực hiện ngoài phạm vi NSQP thường xuyên, như: quản lý hành chính, chi dự trữ nhà nước chuyên ngành; chi cho các công trình, dự án, chi cấp vốn các doanh nghiệp… - Ngân sách Nhà nước đầu tư tập trung cho Quân đội: Nguồn này được nhà nước bảo đảm chủ yếu để đầu tư cho lĩnh vực xây dựng cơ bản trong Quân đội.
- Ngân sách địa phương chi cho công tác quân sự địa phương: Nguồn NS này được ủy ban nhân dân địa phương giao cho các ĐVDT quân đội thuộc các Quân khu, 7 Bộ chỉ huy quân sự tỉnh, thành phố, quận, huyện… nhằm bảo đảm cho công tác quân sự địa phương theo lĩnh vực, nhiệm vụ chi của NS địa phương. Nguồn từ hoạt động sản xuất làm kinh tế - dịch vụ Hàng năm, các ĐVDT trong Quân đội đều có hoạt động sản xuất làm kinh tế, chủ yếu là khai thác các tiềm năng sẵn có về lao động, năng lực chuyên môn nghiệp vụ, kỹ thuật… nên các hoạt động này thường gắn liền với nhiệm vụ của đơn vị. Trên cơ sở tính chất, đặc điểm, nhiệm vụ của đơn vị mà kết hợp khai thác về lao động phổ thông, lao động kỹ thuật, tận dụng trang thiết bị, phương tiện hay tài sản… (trong điều kiện cho phép) tổ chức các loại hình hoạt động có thu thích hợp, nhằm tạo nguồn bổ sung tài chính cho đơn vị. Đơn vị có tổ chức các hoạt động có thu phải tự lo nguồn vốn để hoạt động (bằng nguồn vốn tự có hoặc đi vay); không được dùng kinh phí do ngân sách cấp hoặc các khoản phải thu nộp ngân sách để làm vốn hoặc bù lỗ cho các hoạt động lao động sản xuất, làm kinh tế (trừ những khoản được ngân sách bố trí theo kế hoạch, như hỗ trợ xúc tiến việc làm.
Đơn vị có tổ chức các hoạt động sản xuất kinh doanh dịch vụ phải đạt hiệu quả kinh tế, thực hiện lấy thu bù chi và có lãi; đồng thời phải tính đến hiệu quả về mặt xã hội như quản lý bộ đội, trang bị nghề nghiệp, xây dựng mối quan hệ đoàn kết quân dân, giữ gìn an ninh chính trị trật tự - an toàn xã hội. Đơn vị có các khoản thu phải báo cáo kết quả, phân phối và sử dụng các khoản thu; nộp kịp thời, đầy đủ các khoản phải nộp cho ngân sách theo đúng quy định của Nhà nước và Quân đội. Theo quy định, có những nội dung thu được phép trích bổ sung kinh phí vào NS, dùng để hỗ trợ thêm các hoạt động huấn luyện đào tạo, khen thưởng, phúc lợi xã hội, bảo quản, sửa chữa trang thiết bị tại đơn vị; sửa chữa, xây dựng mới các công trình phổ thông. Khi bổ sung vào kinh phí thì các khoản đó được coi như là một khoản kinh phí thuộc NS; do đó được quản lý chi tiêu, sử dụng theo chế độ quy định.
Đầu năm NS, ĐVDT phải lập DTNS đối với khoản này; khi được cấp trên phê duyệt mới được thực hiện và cuối năm quyết toán với trên. Nguồn tài chính khác 8 Nguồn khác là nguồn không có tính chất thường xuyên hoặc chỉ có tính chất tạm thu chờ nộp trên hay chờ chi trả, bao gồm: tiền vay của đơn vị cấp trên, đơn vị bạn; đảng phí, đoàn phí; giá trị hoặc hiện vật thu được từ việc cho, tặng của các tổ chức, đơn vị và nhân dân. Cơ chế quản lý tài chính ở các đơn vị dự toán quân đội 1. Khái niệm a) Khái niệm quản lý tài chính “Quản lý” là khái niệm rộng, có nhiều quan niệm khác nhau về quản lý.
Thứ nhất, "Quản lý là một quá trình kỹ thuật và xã hội nhằm sử dụng các nguồn, tác động tới hoạt động của con người và tạo điều kiện thay đổi để đạt được mục tiêu của tổ chức" [24]. Thứ hai, "Quản lý là sự tác động chỉ huy, điều khiển, hướng dẫn các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người nhằm đạt tới mục tiêu đã đề ra" [14]. Thứ tư, “Quản lý là sự tác động có tổ chức, có đích hướng của chủ thể lên các khách thể nhằm đạt được mục tiêu đã định trước” [15]. Theo Giáo trình Tài chính quân đội của Học viện Hậu cần (2020) thì: “Tài chính quân đội là một bộ phận của hệ thống các quan hệ phân bổ dưới hình thức giá trị được Nhà nước giao cho Bộ Quốc phòng tổ chức quản lý; dựa vào nó Quân đội tham gia việc phân bổ sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân bằng cách hình thành và sử dụng các quỹ tiền tệ nhất định nhằm đáp ứng yêu cầu xây dựng Quân đội nhân dân, xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh, bảo đảm mọi nhu cầu cho Quân đội thực hiện các nhiệm vụ mà Đảng và Nhà nước giao cho” [16].
Quản lý tài chính là một bộ phận, một khâu của quản lý kinh tế và là khâu quản lý mang tính tổng hợp. Thực chất của quản lý tài chính là các chủ thể quản lý sử dụng các phương pháp, các công cụ tác động tới đối tượng quản lý nhằm thực hiện những mục đích nhất định trong quản lý tài chính. Chủ thể QLTC là chỉ huy đơn vị, cơ quan TC, các ngành, các cấp cùng với sự tham gia quản lý tích cực, dân chủ của mọi cá nhân, tổ chức trong đơn vị. Quản lý tài chính trong các ĐVDT Quân đội là tổng thể các biện pháp tổ chức, điều hành, kiểm tra, phối hợp các mặt hoạt động để đảm bảo tiếp nhận, phân phối, sử 9 dụng các nguồn tài chính theo phương hướng, mục tiêu, kế hoạch xác định nhằm hoàn thành nhiệm vụ tài chính được giao với chất lượng, hiệu quả cao nhất.
Mục tiêu mà quản lý tài chính cần đạt là mọi khoản chi tiêu trong đơn vị đều phải đảm bảo tiết kiệm, đúng chế độ tiêu chuẩn, đúng nội dung và nằm trong dự toán được duyệt, phù hợp với định mức của Nhà nước và BQP. Quá trình quản lý là cách tiến hành các công việc một cách có hệ thống. Do vậy, khi coi quản lý như một quá trình, người ta muốn nhấn mạnh rằng, quá trình quản lý là tổng thể các hoạt động và phương pháp hành động mang tính hệ thống diễn ra trong một thời gian nhất định, theo những quy trình cụ thể để quản lý các hoạt động của một đơn vị.