CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Cơ sở hình thành đề tài nghiên cứu Mục tiêu tài chính quan trọng của bất kỳ doanh nghiệp nào cũng chính là sự gia tăng về doanh số và lợi nhuận. Tuy nhiên, có một sự đánh đổi giữa lợi nhuận và rủi ro. Mục tiêu thanh khoản và lợi nhuận luôn luôn mâu thuẫn nhau trong hầu hết các quyết định tài chính. Để đạt được mục tiêu này, các doanh cần thiết phải chú trọng đến quản trị tài chính, trong đó có quản trị tài chính ngắn hạn và đặc biệt đối với các doanh nghiệp sản xuất thì việc quản trị vốn lưu động là điều đáng quan tâm.
Vốn lưu động đóng vai trò rất quan trọng trong cấu trúc tài chính của doanh nghiệp, nó tác động trực tiếp đến hiệu quả và rủi ro hoạt động của doanh nghiệp. Nếu nhà kinh doanh có một chút thuận lợi đối với vốn lưu động thì họ sẽ luôn nhận được lợi nhuận ở bất kỳ cơ hội nào (Sial và Chaudhry, 2010). Nghiên cứu của Afza và Nazir (2007) cho thấy rằng, quản trị vốn lưu động rất quan trọng đối với các doanh nghiệp sản xuất vì tài sản ngắn hạn và nguồn vốn ngắn hạn chiếm gần 50% tổng tài sản. Không những vậy, Deloof (2003) còn cho thấy một số lượng tương đối lớn các tài sản của doanh nghiệp được dành riêng cho vốn lưu động.
Quản trị vốn lưu động tốt, sẽ dẫn đến lưu chuyển tiền tệ tăng và giảm mức nhu cầu tài trợ từ bên ngoài, từ đó làm giảm chi phí sử dụng vốn và gia tăng hiệu quả kinh doanh (Charitou, 2010). Một doanh nghiệp liên tục làm ăn thua lỗ thì sẽ sớm dẫn đến phá sản, nhưng cũng không có gì đảm bảo rằng một doanh nghiệp đang hoạt động có lãi, thậm chí liên tục có lãi trong nhiều năm thì không có cùng số phận. Có lợi nhuận nhưng không có tiền để thanh toán các khoản nợ đến hạn và tái sản xuất, doanh nghiệp vẫn có thể phá sản. Một khi không có phương cách quản lý vốn lưu động một cách hiệu quả, doanh nghiệp có thể mất khả năng thanh toán (Nguyễn Tấn Bình, 2005).
2 Mục tiêu của quản trị vốn lưu động là duy trì tài sản ngắn hạn và nợ ngắn hạn ở mức vừa đủ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Vốn lưu động quá thiếu hoặc quá thừa đều ảnh hưởng không tốt đến hoạt động của doanh nghiệp. Nếu thiếu vốn lưu động có thể làm gián đoạn sản xuất, doanh nghiệp không dự trữ đủ nguyên vật liệu cho sản xuất thì có thể sẽ làm giảm sản luợng, doanh thu (Mansoori và Muhammad, 2012). Nếu không có đủ hàng tồn kho thì khi nhu cầu thị trường tăng lên, doanh nghiệp sẽ không có đủ hàng hóa cung ứng và sẽ bị mất cơ hội chiếm lĩnh thị truờng.
Trái lại, nếu đầu tư quá thừa vào vốn lưu động thì doanh nghiệp sẽ tốn thêm chi phí tồn kho và chi phí cơ hội, gây tồn đọng vốn lưu động, làm hiệu quả sử dụng vốn lưu động giảm, từ đó ảnh hưởng hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp (Garcia, 2010; Enqvist và cộng sự, 2012). Ngoài ra, việc tăng hoặc giảm các khoản nợ ngắn hạn sẽ ảnh huởng đến vốn lưu động ròng. Việc quản trị vốn lưu động là sự kết hợp trong việc quản trị tài sản ngắn hạn và nợ ngắn hạn. Trong tình hình thế giới đang lâm vào tình trạng suy thoái kinh tế và khủng hoảng tài chính kể từ năm 2008 đến nay, một trong các chỉ tiêu tài chính mà các doanh nghiệp đặc biệt quan tâm đó là tài sản ngắn hạn (Abuzayed, 2011).
Nhiều nghiên cứu trên thế giới và trong nước đã chỉ ra sự tác động của việc quản trị vốn lưu động đến hiệu quả hoạt động doanh nghiệp. Tuy nhiên, tại Việt Nam, các nghiên cứu về vấn đề này chưa nhiều và nhất là nghiên cứu về một ngành cụ thể. 3 Trong phát triển kinh tế Việt Nam, thép đóng một vai trò hết sức quan trọng. Thép không chỉ được sử dụng trong các mục đích lớn như đầu tư xây dựng cơ bản, các công trình phục vụ xây dưng cơ sở vật chất hạ tầng cho nền kinh tế như cầu, đường, các nhà máy, xí nghiệp mà còn được dùng cho các hoạt động sản xuất của nhiều ngành kinh tế như chế tạo máy móc, thiết bị, công nghiệp ô tô, đóng tàu … Có thể nói ngành thép là ngành công nghiệp cơ bản tạo ra nguyên liệu cho việc xây dựng cơ sở hạ tầng của mọi quốc gia.
Phát triển ngành công nghiệp sản xuất thép trên cơ sở tài nguyên sẵn có trong nước sẽ kéo theo sự phát triển của các ngành khác như khai khoáng, năng lượng, giao thông và các ngành công nghiệp sử dụng sắt thép như xây dựng, đóng tàu … Do ảnh hưởng bởi cuộc khủng hoảng kinh tế 2008, nền kinh tế thế giới nói chung và nền kinh tế Việt Nam nói riêng đang gặp nhiều khó khăn, thị trường bất động sản Việt Nam đóng băng đã gây ảnh hưởng rất xấu cho ngành thép. Bên cạnh giá nguyên liệu đầu vào tăng, ngành thép Việt Nam còn chịu sự cạnh tranh của thép nhập khẩu. Tuy nhiên kết thúc quý III năm 2013 có những chuyển biến tích cực đối với các doanh nghiệp sản xuất thép trong nước. Theo báo cáo kết quả kinh doanh 9 tháng đầu năm 2013, tổng lợi nhuận sau thuế các công ty thép niêm yết đạt 1.894 tỷ đồng, tăng gần 70% so với cùng kỳ năm ngoái, đi kèm với đó là sự tăng giá rất mạnh của cổ phiếu các doanh nghiệp sản xuất thép đầu ngành như Tập đoàn thép Hòa Phát (Mã CK: HPG), Tập đoàn Hoa Sen (Mã CK: HSG) … Tuy nhiên bên cạnh sự thành công của nhiều doanh nghiệp thép thì vẫn còn không ít doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn như Công ty cổ phần Thép Pomina (Mã CK: POM) là đơn vị quy mô lớn với vốn điều lệ trên 1.000 tỷ đồng và chiếm thị phần tới 15% cả nước, nhưng lỗ sau thuế hơn 240 tỷ đồng 9 tháng qua trong khi cùng kỳ năm ngoái còn thu lãi 9 tỷ và một loạt doanh nghiệp sản xuất nhỏ khác.
Vậy tại sao lại có sự khác biệt như vậy? Do đặc thù của ngành thép là sự dụng nhiều vốn vay để tài trợ cho hoạt động nhập khẩu nguyên liệu và máy móc, 4 nhiều doanh nghiệp thép đã rơi vào tình trạng thiếu nguyên liệu đầu vào vì do thiếu vốn lưu động, trầm trọng hơn một số doanh nghiệp đã đóng cửa và dần đi vào phá sản. Một trong những nguyên nhân không thể không kể đến đó là hiệu quả của việc quản trị vốn lưu động. Do vậy, vấn đề đầu tiên các doanh nghiệp cần phải thấy được một cách rõ ràng đó là sự tác động của việc quản trị vốn lưu động tới hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp trong ngành. Các phân tích ở trên đây đã cho thấy tầm quan trọng của việc quản trị vốn lưu động của doanh nghiệp vì sự tác động của nó đến hiệu quả hoạt động doanh nghiệp.
Do đó, tác giả chọn đề tài nghiên cứu “Ảnh hưởng của quản trị vốn lưu động đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp - Nghiên cứu trường hợp các doanh nghiệp thép đang niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam”, với mong muốn các nhà quản trị tài chính có cái nhìn sâu sắc hơn về vấn đề này nhằm cải thiện tình hình tài chính ngắn hạn cho các doanh nghiệp Nghiên cứu này chú trọng đến tác động của hiệu quả quản trị vốn lưu động đến hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp thép đang niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Kết quả nghiên cứu sẽ làm cơ sở cho các nhà quản trị tài chính trong doanh nghiệp Thép ra quyết định hợp lý và đúng đắn trong việc đưa ra các chính sách quản trị vốn lưu động cho riêng mình.2 Mục tiêu nghiên cứu Từ việc xác định vấn đề nghiên cứu trên, nghiên cứu này sẽ đi đến đạt được các mục tiêu cụ thể sau: - Xác định các thành phần của quản trị vốn lưu động của doanh nghiệp. - Xác định mức độ tác động của từng thành phần của quản trị vốn lưu động đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp. - Đề xuất các kiến nghị nhằm giúp các nhà quản trị tài chính của các doanh nghiệp thép đang niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu: Quản trị vốn lưu động, các yếu tố của quản trị Vốn lưu động và hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp.
Đối tượng khảo sát: 23 doanh nghiệp ngành Thép đang niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam giai đoạn từ 2008 đến 2013. Phạm vi nghiên cứu: đề tài tập trung nghiên cứu tác động của quản trị vốn lưu động đến hiệu quả kinh doanh kinh doanh của các doanh nghiệp thép được niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam giai đoạn 2008 – 2013.4 Phương pháp nghiên cứu Nghiên cứu sử dụng chủ yếu là phương pháp nghiên cứu định lượng. Dữ liệu được thu thập từ các báo cáo tài chính đã được kiểm toán của các công ty ngành thép trong giai đoạn 2008 – 2013. Dữ liệu sau khi thu thập sẽ được đưa vào phân tích bằng chương trình Stata 11 bao gồm các bước sau: - Thống kê mô tả để khái quát về dữ liệu nghiên cứu.
- Phân tích tương quan giữa các cặp biến số để xem xét mối quan hệ giữa các chỉ tiêu định lượng trong nghiên cứu. - Ước lượng hồi quy để kiểm định các giả thuyết này thông qua việc phân tích các biến số trong mô hình nghiên cứu. Từ việc bác bỏ hay chấp nhận các giả thuyết, các kết quả cũng như những kết luận được rút ra cho nghiên cứu.5 Ý nghĩa của nghiên cứu - Kết quả nghiên cứu sẽ đóng góp vào sự hiểu biết chung về tác động của quản trị vốn lưu động đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp ngành Thép đã niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán Việt Nam. - Kết quả nghiên cứu giúp cho các nhà quản trị tài chính doanh nghiệp Thép thấy được tác động của hiệu quả quản trị vốn lưu động đến hiệu quả kinh doanh 6 của doanh nghiệp, để xây dựng một kế hoạch quản trị chu kỳ luân chuyển tiền, các khoản phải thu, hàng tồn kho, khoản phải trả cho doanh nghiệp của mình.
- Kết quả nghiên cứu sẽ giúp các nhà quản trị tài chính trong doanh nghiệp đưa ra những quyết định đúng đắn trong trong việc quản trị tài chính ngắn hạn.6 Kết cấu luận văn Nội dung luận văn được chia thành 5 chương (không bao gồm phần Phụ lục và Danh mục tài liệu tham khảo).