Chương 1 : TỔNG QUAN LÝ THUYẾT 1.1 Tổng quan các nghiên cứu trước đây Kiệt quệ tài chính của doanh nghiệp xảy ra khi doanh nghiệp gặp khó khăn hoặc không thể trả được các khoản nợ. Nếu kiệt quệ ở mức độ nghiêm trọng và không có cách giải quyết tốt có thể dẫn đến phá sản. Một doanh nghiệp đang lâm vào tình trạng kiệt quệ tài chính có thể có các dấu hiệu nhận biết như : tiền mặt giảm thường xuyên, liên tục; không có sản phẩm mang tính cạnh tranh; không thu được nợ hoặc nợ quá nhiều; không lập quỹ dự phòng tài chính; bán các tài sản hàng đầu; cắt giảm các khoản thù lao; các cán bộ quản lý cao cấp ra đi …. Tuy nhiên đây là những dấu hiệu có thể nhận biết khi công ty đã rơi vào giai đoạn kiệt quệ trầm trọng và hầu hết trường hợp sẽ dẫn đến phá sản.
Trong khi đó, nếu có thể biết được những nguyên nhân, yếu tố gây ra kiệt quệ sớm hơn thì có thể giúp các nhà quản lý, ban giám đốc có cái nhìn thấu đáo hơn về hiện trạng công ty, từ đó đưa ra những giải pháp khắc phục, sửa đổi trước khi kiệt quệ trở nên trầm trọng hơn. Do đó, việc dự báo kiệt quệ tài chính của công ty đóng vai trò quan trọng được nhiều người quan tâm và nghiên cứu. Nhiều nghiên cứu đã được thực hiện về chủ đề này cả về kỹ thuật thu thập dữ liệu, kỹ thuật phân tích và cố gắng đưa ra các mô hình dự báo kiệt quệ tài chính cũng như đánh giá mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến sự kiệt quệ tài chính, ví dụ: Nghiên cứu của Edward I. Altman năm 2000; Gregor Andrade và Steven N.
Kaplan năm 1997; Platt năm 2006; Rayenda K Brahmana năm 2007; John R. Graham, Solani Hazarika và Narasimhan năm 2011; …. Thực tế không thể phủ nhận kiệt quệ tài chính của doanh nghiệp được xác định bởi các yếu tố khác nhau. Quá trình xác định và định lượng các yếu tố này thậm chí không phải lúc nào cũng có thể.
Và một lần nữa khẳng định kiệt quệ tài chính cũng không phải là một chủ đề dễ dàng để định lượng. Do đó, mô hình kiệt quệ tài chính sẽ luôn luôn phụ thuộc vào một số giả định có thể định lượng được. Nghiên cứu này sẽ sử dụng biến phụ thuộc là biến định tính, ý định được giả định rằng tình hình tài chính của một công ty có thể được thể hiện với các biến TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.001 6 số, chẳng hạn như kỹ thuật nhị phân : đại lượng “1” đại diện cho các công ty có xảy ra kiệt quệ tài chính và “0” đại diện cho các công ty không xảy ra kiệt quệ. Điều này cũng có ý nghĩa là nghiên cứu này giả định rằng biến phụ thuộc với một lý do cụ thể có thể giải thích bởi một yếu tố khác kể cả về số lượng hoặc chất lượng.
Hầu hết các nghiên cứu chính của mô hình dự đoán kiệt quệ tài chính được hình thành dựa trên phân tích kinh tế của các tỷ số tài chính. Báo cáo tài chính được công bố chứa đựng một sự đầy đủ thông tin về thành tựu và triển vọng công ty, và cung cấp các thông số, dữ liệu để nhận biết, đo lường và kiểm soát độ lớn của các nhân tố ảnh hưởng đến tình trạng kiệt quệ tài chính của công ty. Vì vậy, phân tích chỉ số không chỉ được chọn khi giải thích các tính toán tài chính cần thiết mà còn đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của các mô hình dự báo kiệt quệ tài chính. Trong bài này, tác giả cũng phân tích các chỉ số tài chính của công ty để xác định mức độ tác động của các yếu tố đến khả năng kiệt quệ của doanh nghiệp.
Dựa trên các bài nghiên cứu trước đây, tác giả tập trung tiến hành phân tích tác động của các nhân tố bao gồm : tỷ suất đòn bẩy, khả năng thanh toán, quy mô, lợi nhuận, đầu tư, tính biến động của giá cổ phiếu và độ tuổi của doanh nghiệp. Tác giả sử dụng mô hình Logit để kiểm tra tác động của các nhân tố này vào năm 2010 lên khả năng xảy ra kiệt quệ tài chính bất cứ lúc nào trong năm 2011 và 2012. Trong đó biến phụ thuộc là biến kiệt quệ tài chính (DIS – Distress), DIS là một biến nhị phân, sẽ nhận giá trị “1” nếu công ty bị kiệt quệ tài chính trong giai đoạn 2011 – 2012 và nhận giá trị “0” nếu công ty không bị kiệt quệ tài chính. Tác giả thu thập mẫu là 252 công ty được niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán TP.
Hồ Chí Minh với các thông tin và đặc điểm công ty trong năm 2010 và thông tin về kiệt quệ trong năm 2011 – 2012. Từ những lý luận cũng như dữ liệu thực tế, tác giả thấy rằng các doanh nghiệp có mức đòn bẩy cao và xếp hạng tín dụng thấp có khả năng xảy ra kiệt quệ cao hơn và ngược lại. Các thông tin mà các tổ chức xếp hạng tín dụng công bố có sự hữu ích nhất định trong việc dự báo kiệt quệ tài chính. Kết quả tổng thể của mô hình chỉ ra rằng mô hình của tác giả có khả năng dự báo rất cao, với độ chính xác của tổng thể lên đến 69.
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.1 Nghiên cứu “Predicting Financial Distress of companies: Revisiting the Z-score and Zeta models”, Edward I. Altman (2000) Đã có nhiều bài nghiên cứu và các mô hình dự báo kiệt quệ tài chính cũng như đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến sự kiệt quệ tài chính của công ty. Hai mô hình Z-score (1968) và ZETA (1977) là hai mô hình phổ biến nhất. Bài nghiên cứu “Predicting Financial Distress of companies: Revisiting the Z-score and Zeta models”, Edward I.
Altman (2000) đã thảo luận về hai mô hình này. Bài nghiên cứu đã xác định những đặc điểm của doanh nghiệp kiệt quệ được kiểm tra để xác định các yếu tố dự báo doanh nghiệp kiệt quệ. Từ đó làm nổi bật vai trò của việc phân tích các chỉ số tài chính trong dự báo kiệt quệ tài chính. Trong mô hình Z-score (Altman 1968), tác giả đã dùng phương pháp thống kê đa yếu tố phân biệt MDA để tính xem mỗi biến số sẽ có quyền số bao nhiêu, tức là mỗi nhân tố sẽ ảnh hưởng đến kiệt quệ như thế nào.
Sau khi đưa hơn 22 yếu tố ban đầu, 5 yếu tố đã được chọn như là những yếu tố có tiềm năng để dự báo kiệt quệ tài chính, bao gồm : ố â ể X1 = ổ à ả ợ ậ ữ ạ X2 = ổ à ả X3 = ổ à ả á ị ị ườ ủ ố ổ ầ X4 = á ị ổ á ủ ợ X5 = ổ à ả Từ một chỉ số Z ban đầu, Altman phát triển thêm Z’ và Z” để có thể áp dụng theo từng loại hình của doanh nghiệp: Đối với doanh nghiệp đã cổ phần hoá, ngành sản suất: Z = 1.99 : Doanh nghiệp nằm trong vùng an toàn, chưa có nguy cơ phá sản TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.99 : Doanh nghiệp nằm trong vùng cảnh báo, có thể có nguy cơ phá sản - Nếu Z <1.8 : Doanh nghiệp nằm trong vùng nguy hiểm, nguy cơ phá sản cao. Đối với doanh nghiệp chưa cổ phần hoá, ngành sản suất: Z’ = 0.9 : Doanh nghiệp nằm trong vùng an toàn, chưa có nguy cơ phá sản - Nếu 1.9: Doanh nghiệp nằm trong vùng cảnh báo, có thể có nguy cơ phá sản - Nếu Z’ <1.23 : Doanh nghiệp nằm trong vùng nguy hiểm, nguy cơ phá sản cao. Đối với các doanh nghiệp khác: Chỉ số Z” dưới đây có thể được dùng cho hầu hết các ngành, các loại hình doanh nghiệp. Vì sự khác nhau khá lớn của X5 giữa các ngành, nên X5 được đưa ra.6 : Doanh nghiệp nằm trong vùng an toàn, chưa có nguy cơ phá sản - Nếu 1.6 : Doanh nghiệp nằm trong vùng cảnh báo, có thể có nguy cơ phá sản - Nếu Z <1.1 : Doanh nghiệp nằm trong vùng nguy hiểm, nguy cơ phá sản cao.
Ngoài tác dụng cảnh báo dấu hiệu phá sản, Altman [31] đã nghiên cứu trên 700 công ty để cho ra chỉ số Z” điều chỉnh: Z”điều chỉnh = 3.05X4 Z” điều chỉnh có tương đồng khá cao với các hạng mức tín nhiệm trái phiếu của S&P. Hàm ý rằng các mô hình toán học có thể sánh ngang với phương TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.001 9 pháp chuyên gia. Altman còn phát triển mô hình rủi ro tín dụng Zeta (1977) với một số cải tiến so với mô hình Z-score ban đầu, mô hình này không chỉ dự báo cho các doanh nghiệp lớn mà còn cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Zeta được nghiên cứu để xây dựng một cách tiếp cận rõ ràng về những sự phát triển gần đây ảnh hưởng đến thất bại trong kinh doanh, và có hiệu quả phân loại các công ty bị phá sản trước đến 5 năm trên mẫu bao gồm các tập đoàn, nhà sản xuất và bán lẻ.
Tương tự Z-score, sau khi thực hiện các thống kê để loại bỏ các biến từ tập hợp các biến ban đầu, tác giả đã chọn được 7 nhân tố có ảnh hưởng đến dự báo kiệt quệ tài chính, đó là : lợi nhuận / tài sản ; sự ổn định của lợi nhuận ; mức nợ ; khả năng sinh lợi tích lũy ; tính thanh khoản ; vốn hóa và quy mô.2 Nghiên cứu “ How costly is Financial Distress ? Evidence from highly leveraged transaction (HLTs) that became distress”, của Gregor Andrade và Steven N.Kaplan (1997) Trong bài nghiên cứu “ How costly is Financial Distress ? Evidence from highly leveraged transaction (HLTs) that became distress”, Gregor Andrade và Steven N.Kaplan (1997) đã nghiên cứu về các yếu tố tác động đến kiệt quệ tài chính cho 31 giao dịch HLTs trong mẫu nghiên cứu của Kplan và Stein (1993a và 1993b), các công ty sau này rơi vào kiệt quệ. Tác giả định lượng và ước tính (trực tiếp và gián tiếp) chi phí kiệt quệ tài chính và các yếu tố xác định. Kết quả cho thấy, chi phí kiệt quệ tài chính trung bình ước tính khoảng 10% giá trị công ty, và chi phí cao nhất cũng không vượt 23% giá trị công ty. Lợi nhuận hoạt động biên của công ty sẽ giảm khi công ty bị kiệt quệ, nhưng sau khi kiệt quệ được giải quyết, lợi nhuận hoạt động tăng trở lại.
Phù hợp với những chi phí kiệt quệ tài chính, tác giả tìm thấy những bằng chứng của việc cắt giảm đột ngột chi tiêu vốn, bán tài sản không mong muốn, và chi phí phát sinh do chậm trể chuyển đổi trong cơ cấu quản lý. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.