Chương 1 luận văn đã trình bày tổng quan về luận văn bao gồm: lý do nghiên cứu đề tài, mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu luận văn, phương nghiên cứu và đối tượng nghiên cứu, ngoài ra luận văn còn trình bày ý nghĩa của đề tài và kết cấu toàn bài của luận văn. 6 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT Chương 2 trình bày những lý thuyết tổng quan về sản phẩm cho vay, cho vay khách hàng doanh nghiệp đồng thời khảo lược các công trình nghiên cứu trước đây để đưa ra các giả thuyết và mô hình nghiên cứu dựa trên khái niệm, học thuyết và các nghiên cứu trước đây về cho vay của các ngân hàng.1 Tổng quan về cho vay và cho vay khách hàng doanh nghiệp 2. Khái niệm Theo Nguyễn Minh Kiều (2009), vay vốn ngân hàng là quan hệ chuyển nhượng quyền sử dụng vốn từ ngân hàng sang cho khách hàng trong một khoản thời gian nhất định với một khoản chi phí nhất định. Theo Trầm Thị Xuân Hương (2012), ngân hàng cho vay là một hình thức cấp tín dụng, theo đó ngân hàng chuyển giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng cho mục đích và thời gian nhất định theo thoả thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả nợ gốc và lãi.
Theo Luật các tổ chức tín dụng ngày 16/06/2010, vay vốn ngân hàng được định nghĩa như sau: “Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian xác định theo thoả thuận với nguyên tắc hoàn trả cả gốc và lãi.” Từ những khái niệm trên, chúng ta có thể hiểu cho vay là một trong những nghiệp vụ chủ yếu của ngân hàng khi thực hiện tín dụng ngân hàng. Đây là nghiệp vụ chủ yếu khi ngân hàng quyết định cấp tín dụng cho khách hàng và cũng là nghiệp vụ mang về thu nhập chủ yếu cho ngân hàng. Tuy nhiên, đây cũng là hoạt động chứa đựng nhiều rủi ro tiềm ẩn có thể xảy ra với ngân hàng. Một số nguyên tắc cho vay của ngân hành thương mại Theo Nguyễn Minh Kiều (2009), Nguyên tắc cho vay góp phần rất quan trọng vào việc hạn chế rủi ro trong quá trình cấp tín dụng của ngân hàng thương mại.
Sau đây là một số nguyên tắc cơ bản: 7 + Sàng lọc: Lựa chọn đối nghịch trong các thị trường cho vay đòi hỏi ngân hàng phải lọc những người đi vay có triển vọng tốt ra khỏi những người có triển vọng xấu, nhờ vậy các khoản cho vay sẽ an toàn hơn và mang lại lợi nhuận cho ngân hàng. + Giám sát: Ngân hàng phải tiến hành hoạt động giám sát nhằm hạn chế rủi ro đạo đức, cần xác định rõ những quy định và hạn chế trong các hợp đồng vay, đồng thời giám sát xem người đi vay có tuân thủ theo các quy định, hạn chế đó không và có thể cưỡng chế thi hành nếu người đi vay không tuân thủ. + Quan hệ khách hàng thường xuyên và lâu dài: Một khách hàng đi vay có quan hệ tín dụng với ngân hàng trong khoảng thời gian dài trước đó thì ngân hàng sẽ nhìn vào các hoạt động quá khứ của khách hàng để nắm bắt được một số lượng thông tin đáng kể về người này. Điều này sẽ giảm rủi ro đạo đức trong cho vay, tiết kiệm được chi phí và thời gian thẩm định khách hàng.
+ Tài sản đảm bảo và có số dư bù: Ngân hàng yêu cầu người đi vay phải có tài sản đảm bảo, đây là nguồn trả nợ thứ hai cho ngân hàng khi nguồn thứ nhất là nguồn thu nhập từ hoạt động kinh doanh của người đi vay không đảm bảo trả được nợ. + Hạn chế tín dụng: Đó là việc ngân hàng từ chối cho vay mặc dù người vay sẵn lòng thanh toán lãi suất đã được công bố thậm chí với một lãi suất cao hơn. + Tương hợp ý muốn: Đó là vấn đề giữa ngân hàng và khách hàng về: nhu cầu vay vốn, quy mô của loại hình cho vay, thời hạn cho vay, lãi suất cho vay, thời điểm giải ngân, … + Khách hàng vay vốn phải sử dụng vốn vay đúng mục đích: Khách hàng phải cam kết sử dụng tín dụng theo mục đích đã thỏa thuận với ngân hàng, không được trái với quy định của pháp luật và của ngân hàng cấp trên. Mục đích của việc cho vay được ghi rõ trong hợp đồng tín dụng nhằm đảm bảo ngân hàng không tài trợ cho các hoạt động trái phép và viêc tài trợ đó là phù hợp với cương lĩnh hoạt động của ngân hàng.
+ Khách hàng phải cam kết hoàn trả cả vốn và lãi đúng thời hạn: Đây là điều bắt buộc đối với khách hàng nhận tiền vay của ngân hàng và là điều kiện để ngân 8 hàng tồn tại và phát triển. Trong hợp đồng tín dụng luôn ghi rõ thời hạn hoàn trả vốn và lãi, khách hàng phải cam kết hoàn trả đúng thời hạn đó. Vai trò của cho vay Theo Nguyễn Minh Kiều (2009), hoạt động cho vay đảm bảo nhu cầu về vốn cho nhu cầu sản xuất kinh doanh vốn nhu cầu tiêu dùng cho các cá nhân trong nền kinh tế: Thừa thiếu vốn tạm thời thường xuyên xảy ra ở các doanh nghiệp. Việc phân phối vốn tín dụng đã góp phần điều hòa trong toàn bộ nền kinh tế, tạo điều kiện cho quá trình sản xuất được liên tục.
Ngoài ra cho vay còn là cầu nối giữa tiết kiệm và đầu tư, là động lực kích thích tiết kiệm đồng thời là phương tiện cung cấp vốn cho đầu tư phát triển. Trong nền kinh tế sản xuất hàng hóa, tín dụng là một trong những nguồn hình thành vốn lưu động và cố định của các doanh nghiệp. Vì vậy hoạt động cho vay đã góp phần động viên vật tư đi vào sản xuất, thúc đẩy ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất để đẩy nhanh quá trình tái sản xuất. Riêng trong điều kiện nước ta hiện nay, cơ cấu kinh tế còn mất cân đối, lạm phát và thất nghiệp vẫn còn ở mức độ cao.
Vì vậy, thông qua việc đầu tư tín dụng sẽ góp phần sắp xếp và tổ chức lại sản xuất, hình thành cơ cấu kinh tế hợp lý. Mặt khác, thông qua hoạt động cho vay mà sử dụng nguồn lao động và nguồn nguyên liệu một cách hợp lý, thúc đẩy quá trình tăng trưởng kinh tế, đồng thời góp phần giải quyết các vấn đề xã hội. Thúc đẩy quá trình tập trung vốn và tập trung sản xuất: Hoạt động của ngân hàng là tập trung vốn tiền tệ tạm thời chưa sử dụng, mà vốn này nằm phân tán ở khắp mọi nơi, trong tay các nhà doanh nghiệp, các cơ quan nhà nước và của cá nhân, trên cơ sở đó cho các đơn vị kinh tế vay. Tuy nhiên, quá trình đầu tư tín dụng không phải rải đều cho mọi chủ thể có nhu cầu, mà việc đầu tư được tiến hành một cách tập trung, chủ yếu là cho các doanh nghiệp lớn, những doanh nghiệp kinh doanh có hiệu quả.
Đầu tư tập trung là quá trình tất yếu, vừa đảm bảo tránh rủi ro tín dụng, vừa thúc đẩy quá trình tăng trưởng kinh tế. Góp phần tác động đến việc tăng cường chế độ hạch toán kinh tế của các doanh nghiệp: Đặc trưng cơ bản của cho vay là hoạt động trên cơ sở hoàn trả và có lợi tức. Vì vậy, hoạt động của cho vay đã góp phần kích thích sử dụng vốn vay có hiệu quả. Khi sử dụng vốn vay ngân hàng thì các doanh nghiệp phải tôn trọng hoạt 9 động cho vay, tức là phải đảm bảo hoàn trả nợ vay theo đúng thời hạn và tôn trọng các điều kiện khác đã ghi trong hợp đồng tín dụng.
Bằng cách tác động như vậy, đòi hỏi doanh nghiệp phải quan tâm đến việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, giảm chi phí sản xuất, tăng vòng quay của vốn, tạo điều kiện để nâng cao doanh lợi doanh nghiệp. Hoạt động cho vay của các NHTM đã và đang ngày một có những đóng góp đáng kể trong sự phát triển kinh tế xã hội. Hoạt động cho vay đối với doanh nghiệp tại Ngân hàng của thương mại 2.1 Khái niệm cho vay khách hàng doanh nghiệp Theo Nguyễn Đăng Dờn (2009), cho vay doanh nghiệp của ngân hàng thương mại là hình thức cấp tín dụng của ngân hàng đối với doanh nghiệp, theo đó ngân hàng giao cho doanh nghiệp một khoản bằng tiền để sử dụng vào mục đích và thời gian nhất định theo thoả thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi. Khách hàng doanh nghiệp của các NHTM có nhiều phân khúc tương ứng với những đặc điểm khác nhau, điều này ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động sản xuất kinh doanh, quyết định đầu tư, vay vốn của các doanh nghiệp.
Có ba nhóm khách hàng doanh nghiệp chính bao gồm: Khách hàng doanh nghiệp nhỏ và vừa (SME), khách hàng doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) và Khách hàng doanh nghiệp quy mô lớn. Đặc điểm cho vay doanh nghiệp của ngân hàng thương mại Theo Nguyễn Đăng Dờn (2009), ngân hàng thương mại được coi như là một loại hình doanh nghiệp đặc biệt bởi lẽ đây là một tổ chức kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ và dịch vụ ngân hàng. Trong hoạt động kinh doanh tiền tệ của ngân hàng thương mại, hoạt động cho vay là hoạt động đóng góp lợi nhuận nhiều nhất cho ngân hàng. Cho vay doanh nghiệp của NHTM có những đặc điểm sau: - Đối tượng khách hàng đa dạng vì các doanh nghiệp hoạt động trong nhiều lĩnh vực khác nhau.
Do đó nhu cầu vay vốn để đáp ứng cũng đa dạng và phong phú, từ việc cho vay trong lĩnh vực xây dựng đối với các doanh nghiệp xây lắp hay cho vay lĩnh vực đầu tư chăm sóc cây công nghiệp đối với các doanh nghiệp sản xuất cà phê, cao su. 10 - Mục đích sử dụng vốn của doanh nghiệp là để đáp ứng nhu cầu sản xuất kinh doanh, mở rộng quy mô sản xuất như vay vốn để mua nguyên liệu phục vụ sản xuất, mua sắm tài sản cố định, xây dựng nhà xưởng, đổi mới thiết bị và áp dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật vào quá trình sản xuất kinh doanh với các khoản vay có giá trị lớn và có thể rất lớn - Thủ tục và quy trình cho vay doanh nghiệp phức tạp hơn vì tính pháp lý của doanh nghiệp phức tạp hơn nhiều so với cá nhân. Bên cạnh đó các doanh nghiệp có giá trị khoản vay lớn thì tài sản đảm bảo thường phức tạp và khó định giá hơn, hầu hết các doanh nghiệp thường thế chấp chính nhà máy, máy móc thiết bị và hàng hóa luân chuyển của mình để đảm bảo cho khoản vay.