Chương 1 vừa trình bày, Chương 2 sẽ giới thiệu lý thuyết phân tích tài chính và các nghiên cứu đã thực hiện liên quan đến vấn đề vay nợ của DN, các tác động từ việc sử dụng nợ của DN đến kinh tế vĩ mô. Trong Chương 3, tác giả sẽ phân tích BCTC của các DNNY và nhận định thực trạng sử dụng ĐBTC của DNNY ở Việt Nam trong giai đoạn 2008 – 2011. Đồng thời phân tích tác động của thực trạng vay nợ đến khả năng thanh khoản, hiệu quả hoạt động tài chính của các DN và nền kinh tế. Phần cuối của nghiên cứu (Chương 4) sẽ tóm tắt các phát hiện chính và gợi ý chính sách nhằm góp phần giải quyết những vướng mắc hiện tại của các DNNY.
6 CHƯƠNG 2 LÝ THUYẾT VỀ CƠ CẤU VỐN VÀ VIỆC SỬ DỤNG ĐÒN BẨY TÀI CHÍNH CỦA DOANH NGHIỆP 2.1 Quyết định vay nợ của các doanh nghiệp phi tài chính 2.1 Cơ cấu vốn và ảnh hưởng của cơ cấu vốn đến khả năng thanh khoản và hiệu quả hoạt động tài chính của doanh nghiệp Cơ cấu vốn (capital structure) của DN là quan hệ về tỷ trọng giữa nợ và vốn chủ sở hữu (gồm vốn cổ phần ưu đãi và vốn cổ phần thường) trong tổng số nguồn vốn của DN. Đòn bẩy tài chính (financial leverage) là mức độ sử dụng các chứng khoán có chi phí cố định trong cơ cấu nguồn vốn của DN (Nguyễn Minh Kiều, 2006). ĐBTC làm gia tăng độ lớn dao động suất sinh lợi trên vốn cổ phần thường so với dao động của mức sinh lợi trên tài sản của DN. Trên thực tế, hầu hết các DN đều sử dụng ĐBTC với mục đích chính là tăng lợi nhuận cho cổ đông thường, tăng giá trị DN thông qua lợi ích từ lá chắn thuế.
Tuy nhiên, định đề M&M II cũng cho rằng chi phí vốn chủ sở hữu của DN có vay nợ tăng đồng biến với tỷ số nợ trên vốn chủ sở hữu. Điều này có nghĩa là khi DN tăng vay nợ, rủi ro sẽ tăng lên và nhà đầu tư sẽ yêu cầu suất sinh lợi trên vốn cao hơn. Khi kinh doanh thuận lợi, các cổ đông của DN có vay vốn sẽ thu được suất sinh lợi trên vốn chủ sở hữu cao hơn DN không vay vốn. Ngược lại, nếu kinh doanh không thuận lợi, khi DN vay nợ, các cổ đông thường sẽ nhận mức sinh lợi thấp hơn hay lỗ nhiều hơn trường hợp không vay nợ.
Theo Brealey và Myers (1996), việc sử dụng ĐBTC có thể khiến DN rơi vào khốn đốn tài chính (financial distress), tức là tình trạng DN không thực hiện được cam kết thanh toán với các chủ nợ hay thực hiện được một cách khó khăn. Tình trạng khốn đốn tài chính nếu không dẫn đến phá sản thì cũng gây tốn kém cho DN. Chi phí khốn đốn tài chính gồm: chi phí của việc phá sản, chi phí do mâu thuẫn quyền lợi giữa chủ nợ và cổ đông dẫn đến các 7 quyết định yếu kém trong hoạt động SXKD và đầu tư, chi phí soạn thảo, giám sát và cưỡng chế thực thi hợp đồng nợ. Do vậy, mỗi DN sẽ chọn một cơ cấu vốn phù hợp với đặc điểm tổ chức, hoạt động SXKD và khả năng chấp nhận rủi ro của mình trong mỗi thời kỳ cụ thể.2 Các tiêu chí đánh giá thực trạng và hiệu quả sử dụng đòn bẩy tài chính của doanh nghiệp Để đánh giá thực trạng sử dụng nợ và ảnh hưởng của ĐBTC đến khả năng thanh khoản và hiệu quả hoạt động tài chính DN, tác giả kết hợp phân tích tỷ số với phân tích so sánh dựa trên BCTC các DNNY.
Khuôn khổ phân tích tài chính Phân tích tỷ số: •Nhóm tỷ số đòn bẩy •Nhóm tỷ số thanh khoản •Nhóm tỷ số hiệu quả hoạt động tài chính •Khả năng phá sản Đánh giá: •Tình hình sử dụng nợ •Ảnh hưởng của nợ đến sức khỏe tài chính của DN (Khả năng thanh khoản; Hiệu quả hoạt động tài chính; Rủi ro phá sản) Phân tích so sánh: •So sánh xu hướng •So sánh ngang: với quốc gia khác, theo ngành •Phân tích cơ cấu Nguồn: Tác giả tổng hợp từ Nguyễn Minh Kiều (2006, Hình 17.1 Nhóm tỷ số đòn bẩy và khả năng thanh khoản Nhóm tỷ số đòn bẩy thể hiện cơ cấu vốn và mức độ sử dụng nợ của các DNNY. Các tỷ số được phân tích trong nhóm này gồm: tỷ số đòn bẩy, tỷ số nợ phải trả và tỷsố nợ vay. Nhóm tỷ số thanh khoản cho biết khả năng trả nợ và lãi vay của DN, gồm các tỷ số thanh toán lãi vay, tỷ số thanh khoản hiện hành, tỷ số thanh khoản nhanh và tỷ số ngân lưu từ 8 hoạt động kinh doanh so với nợ ngắn hạn, tỷ số ngân lưu từ hoạt động kinh doanh so với tổng nợ. Đây là những tỷ số thường được sử dụng khi đánh giá mức độ sử dụng ĐBTC và khả năng trả nợ, lãi vay của DN.
Cách tính, ý nghĩa và thang đo mỗi tỷ số cấu thành hai nhóm tỷ số này được trình bày chi tiết trong Phụ lục 1.2 Nhóm tỷ số sinh lợi và hiệu quả sử dụng đòn bẩy tài chính Khả năng sinh lợi của DN thường được đánh giá qua hai chỉ tiêu: tỷ số sinh lợi trên tổng tài sản (ROA) và tỷ số sinh lợi trên vốn chủ sở hữu (ROE). ROA cho biết một đồng tổng tài sản bình quân sử dụng trong kỳ (hay một đồng vốn của cả chủ sở hữu và chủ nợ) tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận trước thuế và lãi vay (EBIT). ROA càng cao thể hiện DN sử dụng tổng tài sản càng hiệu quả. ROE cho biết một đơn vị vốn chủ sở hữu đầu tư vào SXKD trong kỳ tạo ra được bao nhiêu đơn vị lợi nhuận sau thuế.
ROE cao cho biết hiệu quả sử dụng vốn chủ sở hữu cao. Theo Bodie, Kane và Marcus (2008), ROA và ROE được tính theo công thức: BT ợi nhu n sau thuế ROA = Tổng tài sản ; ROE = Vốn chủ sở hữu nh qu n nh qu n ĐBTC chỉ giúp tăng ROE nếu ROA lớn hơn lãi suất vay của DN. Mối quan hệ này được thể hiện bởi công thức: Nợ phải trả ROE = (1- Thuế suất) * [ROA + (ROA – ãi suất)* Nguồn vốn chủ sở hữu Khi DN hoạt động thiếu hiệu quả hoặc sử dụng nợ quá mức, lợi nhuận không đủ bù đắp lãi vay thì nợ sẽ làm giảm ROE mạnh hơn sự giảm sút ROA do một phần lợi ích của chủ sở hữu phải dùng để trả lãi vay. Phân tích Dupont được sử dụng để xem xét tác động của ĐBTC đến ROE.
Đây là phương pháp phân tích số đo lợi nhuận thành các tỷ số cấu thành để đánh giá tác động của từng thành phần lên ROE (Bodie, Kane, Marcus, 2008). Cụ thể: ROE = Tỷ số gánh nặng thuế * ROA * Tỷ số đòn ẩy kép Trong đó, tỷ số gánh nặng thuế và ROA không đổi theo chu kỳ kinh tế và cơ cấu vốn DN. Tỷ số đòn ẩy kép là tích số giữa tỷ số gánh nặng lãi vay và tỷ số đòn bẩy, được sử dụng để đo lường toàn bộ tác động của ĐBTC. Tỷ số này thay đổi trong từng trường hợp: 9 Trường hợp Tỷ số đòn bẩy kép Ý nghĩa DN không vay nợ 1 >1 ĐBTC có đóng góp tích cực cho RO DN có vay nợ <1 ROA thấp hơn lãi suất.
Việc tăng nợ làm giảm RO. Nguồn: Bodie, Kane và Marcus (2008) Các bước dẫn đến kết quả này trình bày trong Phụ lục 2.3 Khả năng phá sản của DN Ngoài các nhóm tỷ số trên, mô hình điểm Z của Altman (2000) có thể phản ánh phần nào mức độ rủi ro của các DNNY sử dụng ĐBTC. Z là chỉ số về khả năng khó khăn tài chính, giúp tính xác suất phá sản của DN. Từ một chỉ số Z ban đầu chỉ áp dụng cho các DN cổ phần hóa thuộc ngành sản xuất, Altman đã phát triển ra chỉ số Z’ dành cho DN chưa cổ phần hóa, ngành sản xuất và Z” dành cho các DN khác (gồm ngành sản xuất hay phi sản xuất và TD tại thị trường mới nổi).
Vì các DNNY thuộc nhiều ngành khác nhau và Việt Nam thuộc nhóm nền kinh tế mới nổi nên tác giả sử dụng công thức tính Z” của Altman: Z” = 6,56X1 + 3,26X2 + 6,72X3 + 1,05X4 Trong đó: X1 = (Tài sản ngắn hạn - Nợ phải trả ngắn hạn)/Tổng tài sản (cho biết khả năng thanh khoản) X2 = Lợi nhuận giữ lại/Tổng tài sản (cho biết tuổi của DN và khả năng sinh lợi tích lũy) X3 = EBIT/Tổng tài sản (cho biết khả năng sinh lợi) X4 = Vốn đầu tư của chủ sở hữu / Tổng nợ phải trả (cho iết cấu trúc tài chính) Từ chỉ số Z”, Altman đưa ra kết luận về xác suất phá sản của các DN: Z” > 2,60: DN có xác suất phá sản thấp 1,1 < Z” < 2,60: DN có xác suất phá sản trung bình. Z” < 1,1: DN có xác suất phá sản cao Mô hình điểm Z đã được hệ thống ngân hàng tại nhiều quốc gia ứng dụng vào xếp hạng các DN phục vụ cho mục đích xét duyệt TD. Kết quả xếp hạng theo mô hình này cũng 10 được Altman (2003) so sánh và cho thấy khá tương đồng với kết quả xếp hạng của Standard&Poor. Do vậy, hệ số Z” có thể phù hợp trong dự báo khả năng phá sản của DNNY tại Việt Nam.2 Ảnh hưởng từ việc sử dụng đòn bẩy tài chính của doanh nghiệp đến tăng trưởng kinh tế vĩ mô 2.1 Ảnh hưởng tích cực Về mặt vĩ mô, việc đại đa số các DN có thể sử dụng các công cụ tài chính để huy động vốn cho hoạt động SXKD được xem là biểu hiện sự phát triển thị trường tài chính.
Nhiều nghiên cứu thực nghiệm đã sử dụng tỷ số TD trong nước (từ các ngân hàng và các tổ chức tài chính) dành cho khu vực tư nhân/GDP để đo lường độ sâu tài chính như Guidotti và Gregorio (1992), King và Levine (1993), Arcand, Berkes và Panizza (2012) vì cho rằng một hệ thống tài chính cho các DN tư nhân vay nhiều hơn có khả năng kích thích tăng trưởng tốt hơn so với một hệ thống tài chính mà chỉ cung ứng TD cho chính phủ hoặc các DN nhà nước thông qua khả năng đánh giá rủi ro và kiểm soát các DN (King và Levine, 1993). Trong xã hội hiện đại, tài chính là một trong những trụ cột quan trọng giúp thúc đẩy kinh tế phát triển. Theo Cecchetti, Mohanty và Zampolli (2011), nếu không có vay mượn, quốc gia sẽ nghèo mãi. Nhờ có vay nợ, các DN có thể đầu tư nhiều hơn mức doanh thu của họ cho phép.