Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT QUẢN LÝ TÀI SẢN CỦA DOANH NGHIỆP MẤT KHẢ NĂNG THANH TOÁN 1. Khái quát về quản lý tài sản của doanh nghiệp mất khả năng thanh toán 1. Khái niệm và đặc điểm doanh nghiệp mất khả năng thanh toán Trên cơ sở đặc thù của hoạt động kinh doanh và quản trị doanh nghiệp, khoa học pháp lý ngày nay xem phá sản doanh nghiệp là một hiện tượng tất yếu trong nền kinh tế thị trường [23, tr. Đặc trưng cơ bản để xác định doanh nghiệp phá sản được khoa học pháp lý đánh giá trước tiên là dấu hiệu “mất khả năng thanh toán” các khoản nợ đến hạn, dấu hiệu này là căn cứ để khởi động các thủ tục pháp lý dẫn đến TAND ra quyết định thụ lý vụ việc yêu cầu tuyên bố phá sản và tiến hành các thủ tục phá sản.
Như vậy, việc doanh nghiệp lâm vào tình trạng mất khả năng thanh toán là căn cứ để Tòa án ra quyết định mở thủ tục phá sản. Tuy nhiên, tình trạng mất khả năng thanh toán không nhất thiết sẽ dẫn tới việc mở thủ tục phá sản. Trong khoảng thời gian kể từ khi nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản cho tới khi Tòa án chính thức ra quyết định mở hoặc không mở thủ tục phá sản, nếu doanh nghiệp có thể khắc phục được tình trạng mất khả năng thanh toán (có được nguồn thu, được cấp một khoản tín dụng mới.) thì doanh nghiệp vẫn có cơ hội thỏa thuận với chủ nợ về việc rút đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản (Điều 37, LPS năm 2014). Nếu trong khoảng thời gian tính từ khi Tòa án ra quyết định mở thủ tục phá sản đến trước ngày ra quyết định tuyên bố doanh nghiệp phá sản, nếu doanh nghiệp không còn trong tình trạng mất khả năng thanh toán thì thủ tục phá sản sẽ được chấm dứt (Điều 86, LPS năm 2014).
Vì thế, việc xác định được nội hàm khái niệm doanh nghiệp mất khả năng thanh toán nợ sẽ quyết định cơ sở pháp lý đầu tiên của một doanh nghiệp bị phá sản và là cơ sở cho việc thực hiện thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp cũng như bảo vệ cho quyền, lợi ích của những người liên quan, đặc biệt là con nợ. Đây cũng là vấn đề được đặt ra trong pháp luật phá sản của các quốc gia trên thế giới. Theo đó, mất khả năng thanh toán của doanh nghiệp (tiếng Anh được dịch là “inability to pay” hay là “insolvent” trong cụm từ “insolvent enterprise”) được hiểu là tình trạng một doanh nghiệp có một khoản nợ hay nghĩa vụ phải thực 10 Luan van hiện đã đến hạn nhưng không được hoàn trả đúng hạn cho đến thời điểm xem xét vấn đề phá sản. Để xác định yếu tố “mất khả năng thanh toán”, quan điểm pháp lý của các nước trên thế giới được xác định theo nhiều cách khác nhau, trong đó thường được xác định theo một trong hai tiêu chí hoặc kết hợp một số tiêu chí sau: tiêu chí về định lượng và tiêu chí về định tính.
Các tiêu chí định tính chỉ nêu ra trạng thái doanh nghiệp mất khả năng thanh toán nợ lâm vào tình trạng phá sản mà không cần xác định bởi các con số cụ thể. Ví dụ: Tại Nhật Bản, Điều 126 LPS của Nhật Bản ban hành ngày 25/4/1922 quy định: “1. Khi một người mắc nợ không thể trả được nợ thì Tòa án sẽ ra quyết định tuyên bố người đó phá sản theo đơn đề nghị. Khi một người mắc nợ ngừng trả tiền thì người đó được coi là không thể trả được nợ”.
Như vậy, việc nhận định con nợ mất khả năng thanh toán là người mắc nợ ngừng trả tiền cho các khoản nợ đến hạn của mình, và điều này có thể bị Tòa án tuyên bố phá sản. Hay tại Liên Bang Nga, theo Điều 3 Luật Mất khả năng thanh toán (phá sản) của Cộng hòa Liên bang Nga năm 2002 thì các thể nhân, pháp nhân chỉ bị coi là đã lâm vào tình trạng mất khả năng thanh toán của con nợ nếu sau 03 tháng, kể từ ngày đến hạn phải trả mà họ không trả được các món nợ đến hạn đó. Sự quy định rõ ràng về thời gian chậm thanh toán nhằm khẳng định tính nghiêm trọng của tình trạng mất khả năng thanh toán của con nợ. Ở Hoa Kỳ, pháp nhân, cá nhân, nếu do làm ăn thua lỗ, không có khả năng chi trả các khoản nợ đến hạn, thì có quyền nộp đơn ra Tòa phá sản để yêu cầu bảo hộ phá sản theo Chương 11 Luật Phá sản Mỹ năm 1800 (sửa đổi năm 1978) [25].
LPS Cộng hòa Pháp xác định doanh nghiệp mất khả năng thanh toán nợ là khi doanh nghiệp chứng minh được các khó khăn tài chính có thể dẫn đến mất khả năng thanh toán [26]. Điều 2 LPS Trung Quốc cũng xác định doanh nghiệp thuộc các trường hợp không thể trả hết các khoản nợ đến hạn và tài sản của doanh nghiệp không đủ để trả hết các khoản nợ, hoặc doanh nghiệp mất khả năng thanh toán các khoản nợ của mình, có thể nộp đơn lên TAND để tổ chức lại, thỏa hiệp hoặc thanh lý phá sản [27]. 11 Luan van Các tiêu chí định lượng thường xác định trên cơ sở một lượng giá trị bằng tiền mà doanh nghiệp mất khả năng thanh toán nợ không trả được vào một thời điểm nhất định, ví dụ, theo LPS của Singapore năm 1999 con nợ sẽ bị áp dụng thủ tục phá sản (lâm vào tình trạng mất khả năng thanh toán) khi không trả được số nợ đến hạn ít nhất là 5.000$ Singapore; theo luật Mất khả năng thanh toán của Cộng hòa Liên bang Nga năm 2002 thì số tiền đó là 100.000 rúp (Điều 6); ở Mỹ, số tiền này là không dưới 10. Trong quan điểm pháp lý về mất khả năng thanh toán nợ khi xây dựng LPS ở Việt Nam, các nhà làm luật không dựa trên những tiêu chí định lượng cụ thể mà thiên về tiêu chí định tính.
Cụ thể, tại Điều 864 Bộ luật Thương mại Sài Gòn năm 1972 đã viết: "Thương gia ngưng trả nợ có thể, đương nhiên hoặc theo đơn xin của trái chủ, bị Tòa tuyên án khánh tận”. LPS doanh nghiệp năm 1993 không đưa ra định nghĩa doanh nghiệp phá sản mà đưa ra khái niệm doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản: “Doanh nghiệp đang lâm vào tình trạng phá sản là doanh nghiệp gặp khó khăn hoặc bị thua lỗ trong hoạt động kinh doanh sau khi đã áp dụng các biện pháp tài chính cần thiết mà vẫn mất khả năng thanh toán nợ đến hạn”. Quan điểm này cũng được các nhà lập pháp tiếp tục ghi nhận và kế thừa một phần tại Điều 3 LPS năm 2004: "Doanh nghiệp, hợp tác xã không có khả năng thanh toán được các khoản nợ đến hạn khi chủ nợ có yêu cầu thì coi là lâm vào tình trạng phá sản”. LPS năm 2014 đã không còn sử dụng khái niệm doanh nghiệp "lâm vào tình trạng phá sản” như LPS năm 2004, mà thay vào đó là khái niệm doanh nghiệp “mất khả năng thanh toán”.
Theo đó, Khoản 1 Điều 4 về giải thích từ ngữ LPS năm 2014 quy định: “Doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán khi không thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ trong thời hạn 03 tháng kể từ ngày đến hạn thanh toán”. Đồng thời, LPS năm 2014 xác định mất khả năng thanh toán là “không thực hiện nghĩa vụ thanh toán” chứ không phải là “không có khả năng thanh toán” như trong LPS n năm 2004. Sự khác biệt ở đây thể hiện ở ý muốn chủ quan của doanh nghiệp. Nếu như trong LPS năm 2004, doanh nghiệp bị lâm vào tình trạng phá sản được hiểu là đang ở trong tình trạng không có khả năng thanh toán (hết tài sản), thì 12 Luan van đến LPS năm 2014, doanh nghiệp mất khả năng thanh toán phụ thuộc vào cả ý muốn chủ quan của doanh nghiệp đó và “không thực hiện nghĩa vụ thanh toán” có thể hiểu theo hai cách: một là doanh nghiệp đó không có tài sản để thanh toán; hai là doanh nghiệp vẫn có khả năng thanh toán nhưng không muốn thanh toán hoặc muốn trốn tránh nghĩa vụ.
Có thể thấy, xét về điều kiện, khả năng của Nhà nước khó có thể kiểm soát tài sản, tài chính, hoạt động của doanh nghiệp nên từ khi ban hành Luật Phá sản từ năm 1993 cho đến nay việc lựa chọn tiêu chí định tính khi xác định yếu tố mất khả năng thanh toán nợ của doanh nghiệp là hợp lý, điều này sẽ tạo điều kiện cho việc sớm mở thủ tục phá sản cũng như khả năng phục hồi hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp [6]. Tóm lại, doanh nghiệp được xem là mất khả năng thanh toán khi có các đặc điểm như sau: Thứ nhất, khoản nợ của doanh nghiệp để xem xét việc mất khả năng thanh toán là khoản nợ mà doanh nghiệp tạo ra từ hoạt động kinh doanh hợp pháp của mình (bao gồm cả những khoản nợ thương mại và phi thương mại, ví dụ như phải chấp hành một bản án có hiệu lực pháp luật). Theo LPS năm 2014 doanh nghiệp có 02 loại nợ là nợ có bảo đảm và nợ không có bảo đảm. Và có 03 chủ nợ là: chủ nợ có bảo đảm, chủ nợ có bảo đảm một phần, và chủ nợ không có bảo đảm.
Trong đó, khoản nợ đến hạn là điều kiện để đưa doanh nghiệp vào tình trạng mất khả năng thanh toán nợ chỉ bao gồm khoản nợ không có đảm bảo và khoản nợ có đảm bảo một phần, các khoản nợ này đã rõ ràng được các bên xác nhận, có đầy đủ các giấy tờ, tài liệu để chứng minh và không có tranh chấp, còn không bao hàm khoản nợ có đảm bảo vì đã có tài sản bảo đảm thi hành cho khoản nợ này. Thứ hai, về xác định giá trị khoản nợ, pháp luật một số nước như Singapore, Nga, Mỹ… chọn cách xác định doanh nghiệp mất khả năng thanh toán căn cứ vào giá trị cụ thể của khoản nợ, còn pháp luật phá sản Việt Nam không quy định một mức khoản nợ cụ thể và không cần sự tương xứng giữa khoản nợ và tài sản hiện có của doanh nghiệp, với lý do “tình hình tài chính trong các doanh nghiệp rất khác nhau, có thể có những doanh nghiệp nợ vài ba chục triệu nhưng không có cách gì để trả, 13 Luan van trong lúc cũng có những doanh nghiệp nợ tới vài ba trăm triệu vẫn có khả năng thanh toán bình thường” [23, tr.