CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH TRONG DOANH NGHIỆP 1. Tổng quan về phân tích tài chính doanh nghiệp 1. Khái niệm phân tích tài chính doanh nghiệp Phân tích tài chính doanh nghiệp là một quát trình kiểm tra, xem xét các số liệu về tài chính hiện hành và trong quá khứ của doanh nghiệp nhằm mục đích đánh giá thực trạng tài chính, dự tính các rủi ro và tiềm năng tương lai của một doanh nghiệp, trên cơ sở đó giúp cho nhà quản trị đưa ra các quyết định tài chính có liên quan đến lợi ích của họ trong doanh nghiệp đó.
Trước tiên, khi phân tích tài chính cần tìm hiểu tài chính doanh nghiệp là gì và phân tích tài chính doanh nghiệp là như thế nào. Lưu Thị Hương: “Tài chính doanh nghiệp là hệ thống các quan hệ kinh tế phát sinh trong phân phối các nguồn tài chính gắn liền với quá trình tạo lập và sử dụng quỹ tiền tệ trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nhằm đạt được những mục tiêu nhất định của doanh nghiệp” (Nguồn: Lưu Thị Hương, 2015, Giáo trình tài chính doanh nghiệp, Nhà xuất bản Thống kê). Phân tích tài chính doanh nghiệp trước hết thường tập trung vào các số liệu được cung cấp trong các báo cáo tài chính của doanh nghiệp, kết hợp các thông tin bổ sung từ nhiều nguồn khác nhau làm rõ tình hình tài chính doanh nghiệp trong quá khứ, chỉ ra những thay đổi chủ yếu, những chuyển biến theo xu hướng, tính toán nhân tố, những nguyên nhân của sự biến động, phát hiện những quy luật của các hoạt động làm cơ sở cho các quyết định ở hiện tại và dự báo cho tương lai. Lưu Thị Hương thì: “Phân tích tài chính là sử dụng một tập hợp các khái niệm, phương pháp và các công cụ cho phép xử lý các thông tin kế toán và các thông tin khác về quản lý nhằm đánh giá tình hình tài chính của một doanh nghiệp, đánh giá rủi ro, mức độ và chất lượng hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp đó” (Nguồn: Lưu Thị Hương, 2015, Giáo trình tài chính doanh nghiệp, Nhà xuất bản Thống kê).TS Ngô Thế Chi và PGS.TS Nguyễn Trọng Cơ thì: “Phân tích tài chính là tổng thể các phương pháp được sử dụng để đánh giá tình hình tài chính đã qua và hiện nay, giúp cho nhà quản lý đưa ra được quyết định quản lý chuẩn xác và đánh giá được doanh nghiệp, từ đó giúp những đối tượng quan tâm đi tới những dự đoán chính xác về mặt tài chính của doanh nghiệp, qua đó có các quyết định phù hợp với lợi ích của chính họ” (Nguồn: Ngô Thế Chi, Nguyễn Trọng Cơ, 2018, Giáo trình phân tích tài chính doanh nghiệp, Nhà xuất bản Tài chính).
Như vậy, tựu chung lại có thể hiểu phân tích tài chính doanh nghiệp là công việc xem xét, đánh giá chất lượng quản lý doanh nghiệp của nhà quản trị thông qua việc sử 1 Thư viện ĐH Thăng Long dụng các phương pháp phân tích số liệu từ báo cáo tài chính hàng năm của doanh nghiệp. Qua đó, người sử dụng thông tin có thể biết được những thế mạnh hay tồn tại của doanh nghiệp, giải thích được nguyên nhân dẫn tới những thực trạng ấy và từ đó có những định hướng để nâng cao chất lượng quản lý trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong tương lai. Ý nghĩa phân tích tài chính doanh nghiệp Phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp thể hiện tình trạng tài chính của doanh nghiệp tại thời điểm phân tích cũng là cơ sở để đưa ra các dự đoán tài chính trong tương lai. Phân tích tình hình tài chính rất có ích cho việc quản trị doanh nghiệp và là nguồn thông tin chủ yếu cho các đối tượng bên ngoài doanh nghiệp.
Kết quả phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp là mối quan tâm của chủ doanh nghiệp, các nhà đầu tư, cổ đông, chủ nợ, khách hàng, các tổ chức cho vay tín dụng, Nhà nước, người lao động trong doanh nghiệp…, cho thấy tình trạng tài chính của doanh nghiệp tại thời điểm phân tích, đồng thời dự báo những cơ hội trong tương lai cũng như các kế hoạch tài chính phù hợp với doanh nghiệp. Các đối tượng quan tâm đến thông tin của doanh nghiệp có thể được chia thành hai nhóm: nhóm có quyền lợi trực tiếp và nhóm có quyền lợi gián tiếp. Nhóm có quyền lợi trực tiếp, bao gồm: các cổ đông, các nhà đầu tư, các chủ ngân hàng, các nhà cung cấp tín dụng, các nhà quản lý trong nội bộ doanh nghiệp. Mỗi đối tượng trên sử dụng thông tin về tình hình tài chính của doanh nghiệp cho các mục đích khác nhau.
Các nhà quản lý của doanh nghiệp cần các thông tin để kiểm soát và chỉ đạo tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Các thông tin do các báo cáo tài chính cung cấp thường không đáp ứng đủ cho nhu cầu thông tin của họ. Nhằm đáp ứng thông tin cho đối tượng này, doanh nghiệp thường phải tổ chức thêm một hệ thống kế toán riêng. Đó là kế toán quản trị.
Mục đích của kế toán quản trị là cung cấp thông tin phục vụ cho việc quản lý doanh nghiệp và ra các quyết định quản lý kinh doanh của doanh nghiệp. Với các cổ đông và nhà đầu tư: Trong trường hợp doanh nghiệp phát hành cổ phiếu trên thị trường chứng khoán, các báo cáo tài chính của doanh nghiệp cần được công bố cho các nhà đầu tư. Để được tham gia vào thị trường chứng khoán, doanh nghiệp cần phải làm các thủ tục để được uỷ ban chứng khoán chấp nhận cho tham gia niêm yết cổ phiếu trên thị trường chứng khoán. Trước khi gọi vốn trong công chúng, doanh nghiệp phải gửi các báo cáo về tình hình tài chính và kết quả kinh doanh của doanh nghiệp đến ban chứng khoán.
Các báo cáo này sẽ cung cấp các thông tin cần thiết về doanh nghiệp cho các cổ đông tương lai và điều lệ phát hành cổ phiếu. 2 Các thông tin cần phải có trong các báo cáo về tình hình tài chính và kết quả kinh doanh của doanh nghiệp, bao gồm: thông tin về tài sản, công nợ, tình trạng tài chính của doanh nghiệp, kết quả kinh doanh. Ngoài ra, còn có thể bao gồm các thông tin chi tiết khác, như: triển vọng về phương án kinh doanh, loại cổ phiếu, hoàn cảnh phát hành. Mục đích của các nhà đầu tư là tìm kiếm lợi nhuận thông qua việc đầu tư vào mua cổ phiếu của doanh nghiệp.
Do vậy, họ luôn luôn mong đợi, tìm kiếm cơ hội đầu tư vào doanh nghiệp có khả năng sinh lợi cao. Tuy nhiên, trong điều kiện nền kinh tế thị trường với sự cạnh tranh gay gắt, các nhà đầu tư cũng phải tìm biện pháp bảo vệ an toàn cho đồng vốn đầu tư của họ. Vì lý do đó mà bên cạnh việc quan tâm đến mức sinh lợi, thời gian hoàn vốn, mức độ thu hồi vốn, các nhà đầu tư còn quan tâm nhiều đến các thông tin về mức độ rủi ro, các dự án đầu tư. Trên các thị trường chứng khoán, các nhà đầu tư sử dụng rất nhiều các chỉ số tài chính đề đánh giá giá trị và khả năng sinh lãi của cổ phiếu cũng như các thông tin về xu hướng thị trường trước khi đưa ra các quyết định đầu tư hay chấp thuận giao dịch mua bán.
Các báo cáo tài chính chứa đựng các chỉ tiêu tài chính tốt, hứa hẹn nhiều lợi nhuận sẽ làm cho giá cổ phiếu của doanh nghiệp trên thị trường tăng vọt. Ngược lại, báo cáo cho thấy tình hình tài chính xấu và nguy cơ có các khoản lỗ sẽ kéo giá cổ phiếu của doanh nghiệp trên thị trường xuống thấp. Các nhà đầu tư tương lai và các nhà phân tích tài chính cũng như các chủ doanh nghiệp tìm kiếm cơ hội đầu tư nhờ phân tích các thông tin từ báo cáo tài chính doanh nghiệp. Các cổ đông với mục tiêu đầu tư vào doanh nghiệp để tìm kiếm lợi nhuận nên quan tâm nhiều đến khả năng sinh lợi của doanh nghiệp.
Họ chính là các chủ sở hữu của doanh nghiệp nên sử dụng các thông tin kế toán để theo dõi tình hình tài chính và kết quả kinh doanh của doanh nghiệp nhằm mục đích bảo vệ tài sản của mình đã đầu tư vào doanh nghiệp. Tình trạng tài chính và kết quả kinh doanh của doanh nghiệp có ảnh hưởng rất lớn đến giá cả của các cổ phiếu do doanh nghiệp cổ phần đã phát hành. Để bảo vệ tài sản của mình, các cổ đông phải thường xuyên phân tích tình hình tài chính và kết quả kinh doanh của các doanh nghiệp mà họ đã đầu tư để quyết định có tiếp tục nắm giữ các cổ phiếu của các doanh nghiệp này nữa hay không. Các chủ ngân hàng và nhà cung cấp tín dụng quan tâm đến khả năng sinh lợi và khả năng thanh toán của doanh nghiệp thể hiện trên các báo cáo tài chính.
Bằng việc so sánh số lượng và chủng loại tài sản với số nợ phải trả theo kỳ hạn, những người này có thể xác định được khả năng thanh toán của doanh nghiệp và quyết định có nên cho doanh nghiệp vay hay không. Các chủ ngân hàng còn quan tâm đến vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp và coi đó như là nguồn bảo đảm cho ngân hàng có thể thu hồi nợ khi doanh nghiệp bị thua lỗ và phá sản. Ngân hàng sẽ hạn chế cho các doanh nghiệp vay khi nó không có dấu hiệu có thể thanh toán các khoản nợ đến hạn. 3 Thư viện ĐH Thăng Long Các nhà cung cấp tín dụng khác, như các doanh nghiệp cung cấp vật tư theo phương thức trả chậm cần thông tin để quyết định có bán hàng trả chậm cho doanh nghiệp hay không.
Cơ quan thuế cần các thông tin từ phân tích báo cáo tài chính để xác định số thuế mà doanh nghiệp phải nộp. Nhóm có quyền lợi gián tiếp: đây là nhóm đối tượng cũng có sự quan tâm đến các thông tin từ phân tích báo cáo tài chính của doanh nghiệp, bao gồm: các cơ quan quản lý nhà nước khác ngoài cơ quan thuế, các viện nghiên cứu kinh tế, các sinh viên, người lao động. Các cơ quan quản lý khác của chính phủ cần các thông tin từ phân tích báo cáo tài chính để kiểm tra tình hình tài chính, kiểm tra tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và xây dựng các kế hoạch quản lý vĩ mô. Người lao động cũng quan tâm đến các thông tin từ phân tích báo cáo tài chính của doanh nghiệp để đánh giá triển vọng của doanh nghiệp trong tương lai.