Chương 1: Giới thiệu về đề tài nghiên cứu Chương 2: Cơ sở lý luận của phân tích báo cáo tài chính doanh nghiệp Chương 3: Phân tích báo cáo tài chính của Tổng công ty Mía đường I - Công ty cổ phần Chương 4: Thảo luận kết quả nghiên cứu, các giải pháp và kết luận 7 CHƯƠNG 2: LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHÂN TÍCH BÁO CÁO TÀI CHÍNH CỦA DOANH NGHIỆP 2. Khái quát về báo cáo tài chính và ý nghĩa của phân tích báo cáo tài chính 2. Đặc điểm báo cáo tài chính của doanh nghiệp Báo cáo tài chính (BCTC) là sản phẩm cuối cùng của qui trình kế toán. BCTC là những báo cáo tổng hợp nhất về tình hình tài sản, vốn chủ sở hữu và công nợ cũng như tình hình tài chính, kết quả kinh doanh trong kỳ của doanh nghiệp.
Theo Chuẩn mực Kế toán Việt Nam (VAS) Số 200, “BCTC là hệ thống báo cáo được lập theo chuẩn mực và chế độ kế toán hiện hành (hoặc được chấp nhận) phản ánh các thông tin kinh tế tài chính chủ yếu của đơn vị. VAS 215 cũng xác định, “…BCTC phải cung cấp thông tin của một doanh nghiệp về: a) Tài sản; b) Nợ phải trả; c) Vốn chủ sở hữu; d) Doanh thu, thu nhập khác, chi phí, lãi và lỗ; đ) Các luồng tiền. Về mục đích của BCTC, VAS 215 cũng khẳng định “…Mục đích của báo cáo tài chính là cung cấp các thông tin về tình hình tài chính, tình hình kinh doanh và các luồng tiền của một doanh nghiệp, đáp ứng nhu cầu hữu ích cho số đông những người sử dụng trong việc đưa ra các quyết định kinh tế” [VAS 215]. Như vậy, BCTC là phương tiện thể hiện về khả năng sinh lời, trình bày về thực trạng tài chính của doanh nghiệp.
Dựa trên BCTC, người sử dụng cũng có thể nắm bắt được kết quả hoạt động kinh doanh, tình hình tài sản, dòng tiền của doanh nghiệp. Trên cơ sở đó, người sử dụng có thể phân tích, đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh, về thực trạng tài chính nói chung và dự đoán về khả năng tài chính cũng như có thể dự báo nhu cầu tài chính trong tương lai của doanh nghiệp. Do đó, hệ thống BCTC giữ một vai trò đặc biệt quan trọng trong quản lý DN nói chung và phân tích tài chính nói riêng tại DN. Trước hết, BCTC cung cấp những thông tin tổng quát về kinh tế - tài 8 chính, giúp cho việc phân tích tình hình và kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh, phân tích thực trạng tài chính của doanh nghiệp.
Trên cơ sở đó, giúp cho việc kiểm tra, giám sát tình hình sử dụng vốn và khả năng huy động vốn vào quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, đánh giá thực tế chấp hành và thực hiện các chính sách kinh tế tài chính của doanh nghiệp. Tiếp theo, những thông tin trên BCTC là những căn cứ quan trọng trong việc phân tích, phát hiện những khả năng tiềm tàng về kinh tế. Trên cơ sở đó, dự đoán tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh và xu hướng phát triển của doanh nghiệp. Từ đó, giúp cho các nhà quả trị của doanh nghiệp đưa ra những quyết địnhvề quản lý, điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh hoặc giúp cho các nhà đầu tư, các chủ nợ,…đưa ra những quyết định phù hợp.
Ngoài ra, BCTC cung cấp những thông tin giúp cho việc phân tích tình hình tài sản, nguồn vốn, kết quả kinh doanh trong một thời kỳ nhất định, phân tích thực trạng tài chính của doanh nghiệp xuất phát từ mối quan hệ giữa những chỉ tiêu trình bày trên các báo cáo. Cuối cùng, từ những chỉ tiêu, số liệu trên các BCTC giúp người phân tích có được những cơ sở quan trọng để tính ra các chỉ tiêu kinh tế khác, giúp cho việc đánh giá và phân tích hiệu quả sử dụng vốn, hiệu quả của các quá trình sản xuất kinh doanh, thực trạng tài chính của doanh nghiệp. Với mục đích phân tích khác nhau, người thực hiện phân tích có thể sử dụng thông tin khác nhau từ hệ thống các BCTC. Nhìn chung, để phục vụ cho hoạt động phân tích BCTC, hệ thống BCTC gồm đầy đủ các báo cáo theo chế độ BCTC hiện hành.Theo chế độ kế BCTC hiện hành, hệ thống BCTC hiện hành được áp dụng bao gồm: Bảng cân đối kế toán (Mẫu B01-DN), báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh (Mẫu B02-DN), báo cáo lưu chuyển tiền tệ (Mẫu B03-DN), thuyết minh BCTC (Mẫu B09-DN).
Bản chất của việc phân tích báo cáo tài chính doanh nghiệp Phân tích được sử dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau, trong cả khoa 9 học xã hội và khoa học tự nhiên. Thực tế, phân tích được xem như một kỹ thuật được sử dụng trong nhiều môn khoa học khác nhau với mục đích khác nhau. Do đó, khái niệm phân tích cần hiểu gắn với bối cảnh sử dụng cụ thể. Tác giả Nguyễn Văn Công (2013), cho rằng phân tích BCTC là quá trình xem xét, kiểm tra, đối chiếu và so sánh số liệu về tài chính trong kỳ hiện tại với kỳ kinh doanh đã qua; thông qua việc phân tích BCTC sẽ cung cấp cho người sử dụng thông tin có thể đánh giá tiềm năng, hiệu quả kinh doanh cũng như những rủi ro tài chính trong tương lai của doanh nghiệp [7; Tr.
Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang (2011), phân tích BCTC là việc sử dụng các công cụ và kỹ thuật phân tích để xem xét mối liên hệ giữa các chỉ tiêu trên BCTC, từ đó đánh giá về tình hình tài chính hiện tại cũng như dự báo về tình hình tài chính trong tương lai của doanh nghiệp [8; Tr. Trong các quan điểm nêu trên, phân tích BCTC là quá trình vận dụng các công cụ và kỹ thuật phân tích vào các BCTC và các tài liệu liên quan để đưa ra kết quả. Không chỉ dừng lại là quá trình tính toán các chỉ số, phân tích BCTC còn là quá trình xem xét, kiểm tra, đối chiếu và so sánh số liệu về tài chính trong kỳ hiện tại với các kỳ kinh doanh đã qua nhằm đánh giá đúng thực trạng tài chính của doanh nghiệp, đánh giá những gì đã làm được, nắm vững tiềm năng, dự báo những gì sẽ xảy ra, trên cơ sở đó kiến nghị các biện pháp để tận dụng triệt để các điểm mạnh, khắc phục các điểm yếu còn tồn tại. Phân tích BCTC cũng là một quá trình vận dụng hệ thống nhiều kỹ thuật nhằm đánh giá tình hình tài chính và kết quả kinh doanh của doanh nghiệp trong một thời gian hoạt động nhất định.
Trên cơ sở đó, thông tin có được từ hoạt động phân tích BCTC giúp các nhà quản trị doanh nghiệp đưa ra các quyết định kịp thời, phù hợp trong quá trình kinh doanh. Trong điều kiện kinh tế thị trường có sự quản lý vĩ mô của nhà nước, các doanh nghiệp thuộc các loại hình kinh tế khác nhau đều bình đẳng trước pháp luật trong kinh doanh và thường có mối liên hệ với rất nhiều đối tượng 10 trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Do đó, có rất nhiều đối tượng quan tâm đến tình hình tài chính của doanh nghiệp như: nhà đầu tư, chủ nợ, nhà cung cấp, và khách hàng của đơn vị. Mỗi đối tượng quan tâm đến tình hình tài chính của doanh nghiệp ở các góc độ khác nhau, nhưng nói chung đều nhằm có được thông tin cần thiết cho việc đưa ra những quyết định phù hợp với mục tiêu của mình.
Nhìn chung, đối tượng quan tâm đến thông tin tài chính của doanh nghiệp có thể có quyền lợi trực tiếp hoặc có quyền lợi gián tiếp. Do mỗi đối tượng quan tâm và sử dụng BCTC của DN khác nhau gắn với mục đích khác nhau, nên việc sử dụng công cụ phân tích BCTC có những điểm khác biệt nhất định để đạt được mục tiêu. Mặc dù phân tích được sử dụng ở các mức độ khác nhau, mục đích khác nhau, phạm vi khác nhau nhưng phân tích BCTC của DN vẫn được thừa nhận có đóng góp quan trọng trong việc đánh giá tình hình tài chính và hoạt động sản xuất kinh doanh của một doanh nghiệp. Nó không chỉ có ý nghĩa đối với bản thân doanh nghiệp, mà còn rất cần thiết cho các chủ thể quản lý khác có liên quan để cải thiện hoạt động của đơn vị.
Phương pháp phân tích báo cáo tài chính 2. Phương pháp so sánh So sánh là phương pháp được sử dụng phổ biến trong phân tích để đánh giá kết quả, nghiên cứu sự biến động và xác định mức độ biến động của các chỉ tiêu phân tích. So sánh có thể thực hiện gắn với giá trị tuyệt đối hoặc tương đối của chỉ tiêu phân tích. Để đảm bảo các tính chất so sánh được của chỉ tiêu qua thời gian, các chỉ tiêu cần đảm bảo thống nhất về nội dung kinh tế, về phương pháp tính toán và về đơn vị tính của các chỉ tiêu (kể cả hiện vật giá trị và thời gian).
Những hình thức áp dụng phổ biến của so sánh bao gồm: • So sánh giữa số thực tế kỳ phân tích với số kỳ kế hoạch xác định mức độ hoàn thành nhiệm vụ kế hoạch trong mọi mặt của hoạt động tài chính doanh nghiệp. • So sánh giữa số thực tế của kỳ phân tích với số kỳ trước nhằm xác định rõ xu hướng thay đổi về tình hình hoạt động tài chính của doanh nghiệp. 11 • So sánh giữa số liệu của doanh nghiệp với số trung bình của ngành, của các doanh nghiệp khác nhằm đánh giá tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp tốt hay xấu, khả quan hay không khả quan. Trong phân tích BCTC, phương pháp so sánh thường được sử dụng bằng cách so sánh ngang (còn gọi là phân tích ngang) và so sánh dọc (còn gọi là phân tích dọc).
So sánh ngang BCTC là việc so sánh, đối chiếu tình hình biến động về cả số tuyệt đối và số tương đối trên từng chỉ tiêu của từng BCTC. So sánh dọc là việc sử dụng các tỷ lệ, các hệ số thể hiện sự tương quan giữa các chỉ tiêu trong từng BCTC và giữa các BCTC. Phương pháp mô hình Dupont Mô hình Dupont là phương pháp phân tích dựa trên mối quan hệ tương hỗ giữa các chỉ tiêu tài chính để biến đổi một chỉ tiêu tổng hợp thành một hàm số của một loạt các biến số. Chính nhờ sự phân tích mối liên kết giữa các chỉ tiêu mà người ta có thể phát hiện ra những nhân tố đã ảnh hưởng đến chỉ tiêu phân tích theo một trình tự logic.
Nội dung của phương pháp này là tìm cách chia nhỏ một tỷ số tài chính tổng hợp ra thành các tỷ số tài chính nhỏ hơn.