chương 1 đã trình bày được một cách tổng quát về các vấn đề cơ bản liên quan đến đề tài nghiên cứu. Đầu tiên tác giả trình bày lý do chọn đề tài trên cơ sở đó đề xuất các mục tiêu, câu hỏi nghiên cứu. Sau đó xác định đối tượng cũng như phạm vi nghiên cứu. Cuối cùng xác định phương pháp nghiên cứu và đưa ra bố cục của bài nghiên cứu.
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ KIỆT QUỆ TÀI CHÍNH 2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ KIỆT QUỆ TÀI CHÍNH 2. Tổng quan về Kiệt quệ Tài chính. Khái niệm Kiệt quệ tài chính (Financial distress) là thuật ngữ được giới nghiên cứu khoa học dùng để đánh giá tình trạng bất ổn, khó khăn về tài chính của các doanh nghiệp.
Qua quá trình hình thành và phát triển “ kiệt quệ tài chính” dần dần có những định nghĩa rõ ràng và cụ thể hơn, tuy nhiên vẫn chưa có được một định nghĩa thống nhất cho thuật ngữ này vì tồn tại những quan điểm khác nhau giữa các tác giả nghiên cứu. Trước đây thuật ngữ phá sản (Bankruptcy) được dùng khá phổ biến để chỉ tình trạng khó khăn tài chính các doanh nghiệp và các mô hình dự báo sử dụng thuật ngữ kiệt quệ tài chính như là trạng thái cuối cùng mang tính chất pháp lý (tuyên bố phá sản) của các doanh nghiệp, thể hiện trong các nghiên cứu của Altman(1968), Gordon (1971), Jiming & Weiwei (2011). Về sau, kiệt quệ tài chính được hiểu đầy đủ chính xác hơn: chỉ ra tình trạng khó khăn tài chính của các doanh nghiệp như không thực hiện các nghĩa vụ thanh toán, mất khả năng thanh toán, liên tục thua lỗ trong kinh doanh trong một thời gian, nếu tình trạng này vẫn không cải thiện có thể dẫn đến phá sản. Theo William Beaver (1966), kiệt quệ tài chính có thể xuất hiện dưới các hình thức khác nhau như: không thực hiện các nghĩa thanh toán trái phiếu hay không thanh toán cổ tức của cổ phần ưu đãi.
Tinoco & Wilson (2013) chỉ ra rằng thời gian giữa ngày xảy ra kiệt quệ tài chính đến khi phá sản về mặt pháp lý từ 1,17 năm đến 3 năm khi nghiên cứu các công ty tại Anh. Andrade & Kaplan (1998) xác định kiệt quệ tài chính có hai hình thức: không thực hiện nghĩa vụ thanh toán nợ và quá trình tái cơ cấu lại nợ để ngăn chặn tình trạng vỡ nợ. Nghiên cứu của Wruck(1990) cho rằng kiệt quệ tài chính là tình huống mà công ty không đủ dòng tiền trang trải các nghĩa vụ tài chính hiện tại của nó. Aktan (2011) đưa ra quan điểm công ty kiệt quệ tài chính khi: thua lỗ trong 3 năm liên tục 7 hoặc vốn chủ sở hữu bị âm hoặc bán hết tài sản để trả nợ rồi giải thể hoặc toà án chấp nhận nộp đơn phá sản.
Tóm lại trong nghiên cứu này Kiệt quệ tài chính được hiểu là trạng thái tài chính của một công ty đang gặp vấn đề về thanh khoản từ đó gây ra tình trạng khó khăn trong việc thực hiện các nghĩa vụ tài chính buộc các công ty thực hiện các biện pháp tái cơ cấu để giải quyết tình trạng kiệt quệ tài chính của mình, nếu tình trạng này kéo dài có thể dẫn đến phá sản. Như vậy chúng ta cần nhìn nhận phá sản không phải kiệt quệ tài chính mà là kết quả của quá trình kiệt quệ tài chính công ty. Lý thuyết nền về Kiệt quệ tài chính Lý thuyết trật tự phân hạng Theo lý thuyết trật tự phân hạng (Myers & Majluf, 1984), giá trị doanh nghiệp tỷ lệ thuận với hiện giá tấm chắn thuế và tỷ lệ nghịch với chi phí kiệt quệ tài chính. Vì thế trong quá trình sử dụng nợ, các nhà quản lý phải đánh đổi giữa lợi ích lá chắn thuế.Mối quan hệ giá trị doanh nghiệp theo nợ vay và chi và chi phí kiệt quệ tài chính Nguồn: Stewart C.Myers (1984) Minh họa đồ thị từ Hình 2.1 thể hiện sự đánh đổi giữa lợi ích lá chắn thuế và chi phí của kiệt quệ tài chính ấn định cấu trúc vốn tối ưu như thế nào.
Hiện giá của lá 8 chắn thuế bắt đầu tăng khi doanh nghiệp vay thêm nợ. Ở mức nợ trung bình xác suất xảy ra kiệt quệ tài chính không đáng kể và hiện giá chi phí kiệt quệ tài chính thấp do đó lợi thế cấu trúc vốn vượt trội. Tuy nhiên ở một mức nào đó, khi vay thêm nợ chi phí kiệt quệ tài chính tăng đột biến làm ảnh hưởng đến giá trị doanh nghiệp. Điểm tối ưu lý thuyết này đạt được khi hiện giá các khoản tiết kiệm thuế trừ đi hiện giá của chi phí kiệt quệ là nhỏ nhất.
Lý thuyết chi phí đại diện Lý thuyết về chi phí đại diện của Jensen & Meckling (1976) là một trong những khám phá sớm nhất về vấn đề quản lý và quan hệ giữa cổ đông và nhà quản lý trong doanh nghiệp. Theo nghiên cứu này, chi phí đại diện bao gồm chi phí kiểm soát, chi phí giao kèo, và tổn thất lợi ích. Chi phí kiểm soát là số tiền mà cổ đông phải chi trả để giám sát nhà quản lý, đảm bảo rằng họ không lợi dụng quyền lực cho lợi ích cá nhân mà không hướng tới lợi ích của công ty. Chi phí giao kèo là chi phí nhằm ngăn chặn hậu quả tiêu cực có thể xuất hiện từ những hành động không trung thực của nhà quản lý đối với cổ đông và chủ nợ.
Tổn thất lợi ích là sự mất mát do sự chênh lệch giữa quyết định thực tế của nhà quản lý và quyết định tối ưu hóa lợi ích cho cổ đông. Lý thuyết này cho rằng xung đột lợi ích nảy sinh khi có sự thiếu đầy đủ thông tin và mất cân bằng giữa chủ thể và đại diện trong công ty. Khi chi phí đại diện tăng cao có thể dẫn đến sự lãng phí tài nguyên và sự không chắc chắn về việc quyết định. Điều này có thể góp phần vào tình trạng kiệt quệ tài chính nếu chi phí này trở nên không kiểm soát được và gây ra sự mất cân đối trong quản lý và vận hành doanh nghiệp.
Để giảm thiểu xung đột này, cần sử dụng các cơ chế phù hợp để giảm sự chênh lệch lợi ích giữa cổ đông và nhà quản lý. Điều này có thể đạt được thông qua việc thiết lập cơ chế đối ưu hóa đối với những người quản lý và cơ chế giám sát hiệu quả để kiểm soát những hành vi không bình thường và lợi ích cá nhân của họ. Lý thuyết Tín hiệu Theo lý thuyết tín hiệu của Miller & Rock (1985) về tài chính doanh nghiệp, quản lý và Hội đồng quản trị thường có thông tin chi tiết hơn về triển vọng kinh doanh so với nhà đầu tư tiềm năng. Khi doanh nghiệp dự báo một tương lai tích cực, lãnh 9 đạo doanh nghiệp thường không mong muốn chia sẻ lợi nhuận với nhà đầu tư mới.
Ngược lại, khi triển vọng không tích cực, họ có xu hướng muốn chia sẻ rủi ro với những nhà đầu tư mới. Tình hình tài chính của doanh nghiệp có thể được phản ánh thông qua các biểu hiện huy động vốn. Theo lý thuyết này, việc doanh nghiệp phát hành thêm cổ phiếu thường được hiểu là họ đang chia sẻ rủi ro, dẫn đến giả định rằng giá cổ phiếu có thể giảm. Ngược lại, nếu doanh nghiệp mua lại cổ phần thưởng mới, điều này có thể được coi là một tín hiệu tích cực về triển vọng kinh doanh, và giá cổ phiếu có thể tăng.
Điều này thể hiện sự biến động của giá cổ phiếu có thể phản ánh tình hình "sức khỏe" hiện tại của doanh nghiệp. Mô hình đo lường kiệt quệ tài chính Mô hình điểm số Z-Score Mô hình Z-score hiện có nhiều phiên bản để sử dụng cho các loại hình doanh nghiệp khác nhau tuy nhiên mục đích chung là đo lường khả năng kiệt quệ tài chính của các doanh nghiệp. Tác giả chính tạo ra mô hình này là Edward Altman, bằng cách sử dụng phân tích phân biệt đa biến (MAD). Altman (1968) xây dựng mô hình Z-Score nguyên thủy đo lường khả năng kiệt quệ tài chính cho các doanh nghiệp phi sản xuất niêm yết trên thị trường: Z = 0.999X5 Trong đó: X1: Tỷ số vốn lưu động trên tổng tài sản.
X2: Tỷ số lợi nhuận giữ lại trên tổng tài sản. X3: Tỷ số lợi nhuận trước lãi vay và thuế trên tổng tài sản. X4: Giá trị thị trường của vốn chủ sở hữu trên giá trị sổ sách của tổng nợ. X5: Tỷ số doanh số trên tổng tài sản.
Cách xếp loại doanh nghiệp: 2.99 < Z: Doanh nghiệp không có nguy cơ phá sản.99: Doanh nghiệp có nguy cơ phá sản.81: Doanh nghiệp có nguy cơ phá sản cao. 10 Mô hình Z-Score nguyên thủy Altman xây dựng chỉ áp dụng cho các doanh nghiệp sản xuất và đã niêm yết trên sàn chứng khoán. Về sau Altman và các cộng sự(1977) đã cải tiến mô hình. Altman và các cộng sự (1977) xây dựng mô hình Z’-Score áp dụng cho các doanh nghiệp sản xuất chưa niêm yết: Z’ = 0.998X5 Trong đó: X1: Tỷ số vốn lưu động trên tổng tài sản.
X2: Tỷ số lợi nhuận giữ lại trên tổng tài sản. X3: Tỷ số lợi nhuận trước lãi vay và thuế trên tổng tài sản. X4: Giá trị sổ sách của vốn chủ sở hữu trên tổng giá trị vốn chủ sở hữu X5: Tỷ số doanh số trên tổng tài sản Cách xếp loại Doanh nghiệp: 2.9 < Z': Doanh nghiệp không có nguy cơ phá sản.9: Doanh nghiệp có nguy cơ phá sản.23: Doanh nghiệp có nguy cơ phá sản cao. Altman và các cộng sự (2005) xây dựng mô hình Z’’-Score áp dụng các doanh nghiệp phi sản xuất cho các công ty niêm yết và chưa niêm yết.05X4 Trong đó: X1: Tỷ số vốn lưu động trên tổng tài sản.
X2: Tỷ số lợi nhuận giữ lại trên tổng tài sản. X3: Tỷ số lợi nhuận trước lãi vay và thuế trên tổng tài sản. X4: Giá trị sổ sách của vốn chủ sở hữu trên tổng giá trị vốn chủ sở hữu. Cách xếp loại Doanh nghiệp: 5.85 < Z'': Doanh nghiệp chưa có nguy cơ phá sản.85: Doanh nghiệp có nguy cơ phá sản.35: Doanh nghiệp có nguy cơ phá sản cao.
11 Mô hình Z-Score nổi bật với sự đơn giản và tính ứng dụng cao. Công thức đơn giản với năm biến số chính giúp người sử dụng dễ dàng hiểu và áp dụng. Điểm mạnh của mô hình là khả năng đo lường toàn diện, bao quát khả năng kiệt quệ tài chính từ nhiều góc độ, từ cấu trúc vốn đến lợi nhuận và hiệu suất kinh doanh.