chương 1 tác giả đã giới thiệu những vấn đề cơ bản và các nội dung sẽ được thực hiện trong bài khóa luận về chủ đề các yếu tố ảnh hưởng đến rủi ro thanh khoản của các NHTMCP Việt Nam. Tác giả đã nêu rõ mục tiêu nghiên cứu, xác định được đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu và cuối cùng là bố cục của toàn bài khóa luận. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC 2. THANH KHOẢN CỦA NGÂN HÀNG 2.
Khái niệm về thanh khoản ngân hàng Theo Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng (2008) thanh khoản trong ngân hàng được định nghĩa là “Khả năng của ngân hàng có thể tăng thêm tài sản và đáp ứng các nghĩa vụ nợ đến hạn mà không không gặp phải những tổn thất vượt quá mức cho phép”. Tính thanh khoản (Liquidity), là chỉ số thể hiện mức độ lưu động của một loại tài sản ngẫu nhiên được thực hiện giao dịch trên thị trường cũng như trong nền kinh tế và giá trị thị trường của loại tài sản này không bị ảnh hưởng nhiều. Hiểu một cách đơn giản hơn là tính thanh khoản của tài sản thể hiện khả năng quy đổi thành tiền mặt của chính nó. Theo đó, loại tài sản có độ thanh khoản cao nhất là tiền, tiền có thể giao dịch trên thị trường nhanh chóng mà hầu như giá trị không thay đổi.
Còn các loại tài sản khác như vàng, cổ phiếu, bất động sản, máy móc,… sẽ có tính thanh khoản thấp hơn vì cần nhiều thời gian để giao dịch hay quy đổi thành tiền. Theo Rose (2001) định nghĩa “Thanh khoản ngân hàng là việc ngân hàng có thể có được những khoản vốn khả dụng với chi phí thấp đúng tại thời điểm ngân hàng có nhu cầu”. Ngân hàng thanh khoản tốt là khi ngân hàng nắm giữ một lượng vốn khả dụng với quy mô hợp lý hoặc ngân hàng có khả năng nhanh chóng huy động vốn bằng cách vay nợ hay bán tài sản. Hầu hết các yêu cầu thanh khoản đều mang tính thời điểm, do đó bắt buộc ngân hàng phải đáp ứng nhu cầu vốn phù hợp.
Trên thực tế, các vấn đề về thanh khoản của khách hàng thường chuyển về phía ngân hàng. Nếu khách hàng thiếu hụt vốn trong thanh khoản, họ có thể thực hiện vay vốn ngân hàng hoặc rút tiền khỏi tài khoản tiền gửi. Trong cả hai điều này ngân hàng đều bắt buộc phải đáp ứng nhu cầu vốn bổ sung. 7 Trương Quang Thông (2013) cho rằng thanh khoản có nghĩa là “Khả năng chuyển đổi một cách nhanh chóng từ tài sản sang tiền mặt và với chi phí thấp nhất có thể.
Nếu xét từ cả hai phía tài sản và nguồn vốn, thanh khoản bao gồm khả năng tiếp cận các tài sản và nguồn vốn với mức chi phí phù hợp để phục vụ các nhu cầu đa dạng khác nhau của ngân hàng. Tài sản có tính thanh khoản cao nếu chi phí chuyển đổi thành tiền thấp và thời gian chuyển đổi nhanh, trong khi nguồn vốn có tính thanh khoản cao nếu chi phí huy động thấp và thời gian huy động ngắn”. Vậy khi ngân hàng sở hữu một lượng tài sản có sẵn hoặc đi vay một nguồn vốn trong thời gian ngắn để đáp ứng các nghĩa vụ thanh toán của ngân hàng ở mức tối đa bằng một loại tiền tệ cụ thể thì đó gọi là tính thanh khoản của ngân hàng. Cung cầu và trạng thái thanh khoản của ngân hàng 2.
Cung thanh khoản Theo Peter S.Rose (2001), “Cung thanh khoản là các khoản vốn cung cấp khả năng chi trả của ngân hàng. Ngân hàng có nguồn cung thanh khoản dồi dào sẽ luôn đáp ứng kịp thời các khoản chi trả, đây là nguồn cung cấp độ thanh khoản cho ngân hàng. Cung thanh khoản có thể là từ nguồn tiền có sẵn hoặc có thể huy động thông qua nhiều hoạt khác nhau”. Thu nhập từ tiền gửi khách hàng: là nguồn cung thanh khoản chủ yếu của ngân hàng.
Ngân hàng có thể thực hiện các biện pháp như: tạo các dịch vụ hấp dẫn (khuyến mại, thưởng,…), điều chỉnh lãi suất huy động, tác phong chuyên nghiệp, uy tín ngân hàng để tăng cung thanh khoản. Các khoản hoàn trả tín dụng: là nguồn cung thanh khoản quan trọng thứ hai. Là khoản tín dụng khách hàng hoàn trả đầy đủ nguyên gốc cho ngân hàng khi đến hạn. Hoạt động tín dụng mang lại nguồn thu nhập lớn cho ngân hàng song cũng tiềm ẩn rủi ro cao gây ảnh hưởng đến khả năng thanh toán của ngân hàng.
Nếu mọi khoản tín dụng đều thanh toán đúng hạn thì ngân hàng đảm bảo được hiệu quả kinh doanh và góp phần là nguồn cung thanh khoản chính cho ngân hàng. 8 Doanh thu từ hoạt động dịch vụ: là khoản thu từ việc cung cấp dịch vụ cho khách hàng như thu phí bảo lãnh, phí chuyển tiền, phí mở L/C,… Phát hành cổ phiếu ra thị trường: để tăng nguồn cung thanh khoản thì ngân hàng có thể phát hành cổ phiếu ra thị trường. Vay trên thị trường tiền tệ: Để tăng nguồn cung thanh khoản, ngân hàng có thể vay trên thị trường tiền tệ từ các NHTM khác hoặc NHNN, nhất là trong thời kỳ khủng hoảng thanh khoản thì vay từ thị trường liên ngân hàng càng đóng vai trò quan trọng để giải quyết khó khăn thanh khoản trong thời gian nhanh nhất. Bán tài sản ngân hàng: Khi có nhu cầu thanh khoản, ngân hàng có thể chuyển một số tài sản thành tiền (như vàng, cổ phiếu, trái phiếu,…) 2.
Cầu thanh khoản Theo Peter S. Rose (2001), “Cầu thanh khoản là nhu cầu về vốn để duy trì hoạt động của ngân hàng, các khoản làm giảm nguồn quỹ, vốn của ngân hàng”. Khách hàng rút các khoản tiền gửi: khách hàng sẽ có nhu cầu rút tiền thường xuyên và tức thời, bao gồm các khoản tiền gửi thanh toán, tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn đến hạn và các khoản tiền mà khách hàng có thể rút trước hạn. Trong đó, ngân hàng phải đảm bảo dự trữ tiền gửi thanh toán và tiền gửi không kỳ hạn để đáp ứng nhu cầu thanh toán của khách hàng.
Cung cấp các khoản tín dụng: ngân hàng sử dụng vốn huy động để cho khách hàng vay. Đây là yếu tố tác động mạnh mẽ đến cầu thanh khoản đối với ngân hàng và nhu cầu này chịu ảnh hưởng bởi các các nhân tố như nhu cầu đầu tư của khách hàng,lãi suất cho vay, các quy định về điều kiện được vay vốn,… Hoàn trả các khoản vay phi tiền gửi: đây là khoản mà ngân hàng phải hoàn trả cho các khoản đi vay từ tổ chức kinh tế, cá nhân, tổ chức tài chính khác hoặc NHNN. Chi phí lãi vay: là khoản chi phí mà ngân hàng dùng để trả lãi từ việc huy động vốn, phát hành giấy tờ có giá khi đến hạn phải thanh toán cho khách hàng. 9 Chi trả cổ tức: đây là khoản mà ngân hàng chi trả cho các cổ đông.
Chi phí quản lý điều hành và chi phí dịch vụ: là khoản chi phí hoạt động của ngân hàng như tiền lương, thưởng, tiền thuế, chi phí điện, nước, quảng cáo,… 2. Trạng thái thanh khoản ròng (Net Liquidity Position – NLP) Thanh khoản ngân hàng có 3 trạng thái chính: cân bằng, thặng dư và thâm hụt (Nguyễn Văn Tiến, 2015). Trạng thái thanh khoản ròng là sự chênh lệch giữa bên cung thanh khoản và cầu thanh khoản được tính bằng công thức sau: NLP = Σcung thanh khoản – Σcầu thanh khoản (2.1) Nếu NLP = 0, trạng thái cân bằng thanh khoản khi cung thanh khoản bằng với cầu thanh khoản. Tuy nhiên, trạng thái này rất khó xảy ra trong thực tế.
Nếu NLP > 0, trạng thái thặng dư thanh khoản khi cung thanh khoản lớn hơn cầu thanh khoản. Trong trường hợp này, nhà quản trị ngân hàng sẽ xem xét việc đầu tư để sinh lời từ khoản tiền thặng dư này. Nếu NLP < 0, trạng thái thâm hụt thanh khoản khi cung thanh khoản thấp hơn cầu thanh khoản. Trong trường hợp này, nhà quản trị ngân hàng cần xem xét thu hút các nguồn tài trợ để gia tăng cung thanh khoản.
Tóm lại, rất hiếm khi tại một thời điểm tổng cung thanh khoản bằng tổng cầu thanh khoản. Dù là ở trường hợp thặng dư hay thâm hụt thanh khoản cũng đều thể hiện tình trạng ngân hàng mất cân bằng thanh khoản. Vì vậy, ngân hàng phải thường xuyên đối phó với tình trạng mất cân bằng này để giữ cho khả năng thanh khoản và khả năng sinh lời của ngân hàng được cân bằng. Một ngân hàng được xem là có tình trạng thanh khoản tốt khi có khả năng tiếp cận các nguồn thanh khoản đầy đủ, tức thời, mức chi phí hợp lý tại thời điểm có nhu cầu.
RỦI RO THANH KHOẢN 2. Khái niệm về rủi ro thanh khoản Qua định nghĩa về tính thanh khoản của ngân hàng theo Ủy ban Basel (2008), ta có thể hiểu rủi ro thanh khoản xảy ra khi ngân hàng không thể chuyển đổi tài sản ra tiền mặt, không thể thực hiện các chức năng thanh toán, nghĩa vụ trả nợ khi đến hạn, hoặc nếu có trả nợ được thì cũng phải trả mức phí cao hơn mức bình quân của thị trường. Đối với Nguyễn Thành Đạt (2019) cho rằng “Rủi ro thanh khoản là loại rủi ro xuất hiện trong trường hợp ngân hàng thiếu khả năng thanh toán, không chuyển hóa kịp thời tài sản thành tiền hoặc không có khả năng vay để đáp ứng yêu cầu của hợp đồng thanh toán”. Cụ thể hơn, rủi ro thanh khoản là trạng thái thiếu hụt thanh khoản khá trầm trọng dẫn đến ngân hàng mất khả năng chi trả các khoản nợ đến hạn (Theo Trương Quang Thông, 2010).
Vì vậy, rủi ro thanh khoản có thể hiểu được là trường hợp ngân hàng không đáp ứng được các nghĩa vụ tài chính đúng hạn, khi cung tiền có giới hạn nhưng nhu cầu sử dụng tiền mặt của khách hàng thì tăng vọt khiến không kịp xoay tiền từ các nguồn của ngân hàng. Nguyên nhân gây rủi ro thanh khoản 2. Nguyên nhân chủ quan Sử dụng nguồn vốn ngắn hạn để đầu tư dài hạn: Các NHTM thường có một vài cách để xoay vòng tiền trong hệ thống, cách đơn giản nhất và cũng gặp nhiều rủi ro nhất là sử dụng nguồn vốn huy động ngắn hạn của khách hàng để đầu tư hoặc cho vay trung và dài hạn. Vì vậy đã xảy ra tình trạng mất cân xứng giữa thời gian đáo hạn của các khoản đầu tư, cho vay và ngày đáo hạn của các nguồn vốn huy động.
Khi sự việc xảy ra thì thời gian huy động lượng vốn dự phòng cho các ngân hàng sẽ rất khó thực hiện trong thời gian ngắn nên sẽ gây ra rủi ro thanh khoản.