phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn đƣợc trình bày trong 3 chƣơng: Chƣơng 1: Một số lý luận cơ bản về cho vay đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Ngân hàng thƣơng mại Chƣơng 2: Thực trạng cho vay đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Ngân hàng Thƣơng mại cổ phần Công thƣơng Việt Nam Chi nhánh Hà Nam Chƣơng 3: Giải pháp phát triển cho vay đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Ngân hàng Thƣơng mại cổ phần Công thƣơng Việt Nam Chi nhánh Hà Nam. MỘT SỐ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ HOẠT ĐỘNG CHO VAY ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. TỔNG QUAN VỀ DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA 1. Khái niệm về doanh nghiệp nhỏ và vừa Theo Khoản 7, Điều 1, Luật Doanh nghiệp (DN) năm 2014 “Doanh nghiệp là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh”.
Các loại hình DN trong nền kinh tế thị trƣờng rất đa dạng và phong phú. Tùy theo từng cách tiếp cận khác nhau có thể chia DN thành các loại khác nhau nhƣ, dựa theo hình thức sở hữu: DN nhà nƣớc, DN tƣ nhân, DN sở hữu hỗn hợp, theo mục tiêu sản xuất: DN hoạt động kinh doanh, DN hoạt động công ích, theo ngành nghề lĩnh vực kinh doanh: DN tài chính, DN phi tài chính, theo qui mô hoạt động: DN lớn, DN vừa và nhỏ,. Việc qui định thế nào là DN lớn, thế nào là DNNVV là tùy thuộc vào điều kiện cụ thể của từng quốc gia và thay đổi theo từng thời kỳ, từng giai đoạn phát triển kinh tế. Trên cơ sở đó mỗi nƣớc lại chọn cho mình những tiêu chí khác nhau để phân chia thành DN lớn và DNNVV cho phù hợp với sự tăng trƣởng và phát triển kinh tế của đất nƣớc trong từng thời kỳ, từng giai đoạn của nền kinh tế.
Tại Việt Nam, theo Điều 6, Nghị định số 39/2018/NĐ-CP ngày 11/03/2018 của Chính phủ, Nghị định này đƣa ra định nghĩa: “DNNVV là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật, được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương 10 đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu tiên)” Ở một số NHTM ở Việt Nam theo tintucketoan.com đánh giá “DN là DNNVV hay không dựa vào bảng chấm điểm quy mô theo tiêu chí: nguồn vốn KD, lao động, doanh thu thuần, nộp ngân sách. Theo đó thì DN lớn (70-100 điểm), DN vừa (30-69 điểm), DN nhỏ (dƣới 30 điểm). Nhƣ vậy, cho đến nay khái niệm DNNVV đã đƣợc điều chỉnh, chi tiết cụ thể hơn cho phù hợp với điều kiện PT của các ngành nghề theo quy mô vốn và số lao động” Doanh Quy mô nghiệp siêu Doanh nghiệp nhỏ Doanh nghiệp vừa nhỏ Số lao Tổng Số lao Tổng Số lao Khu vực động nguồn vốn động nguồn vốn động I. Nông, lâm từ trên 10 từ trên 20 từ trên 200 10 ngƣời 20 tỷ đồng nghiệp và ngƣời đến tỷ đồng đến ngƣời đến trở xuống trở xuống thủy sản 200 ngƣời 100 tỷ đồng 300 ngƣời II.
Công từ trên 10 từ trên 20 từ trên 200 10 ngƣời 20 tỷ đồng nghiệp và ngƣời đến tỷ đồng đến ngƣời đến trở xuống trở xuống xây dựng 200 ngƣời 100 tỷ đồng 300 ngƣời III. Thƣơng từ trên 10 từ trên 10 từ trên 50 10 ngƣời 10 tỷ đồng mại và dịch ngƣời đến tỷ đồng đến ngƣời đến trở xuống trở xuống vụ 50 ngƣời 50 tỷ đồng 100 ngƣời (Nguồn: Nghị định 39/2018/NĐ-CP) 11 1. Đặc điểm doanh nghiệp nhỏ và vừa 1. Doanh nghiệp vừa và nhỏ tồn tại và phát triển ở hầu hết các lĩnh vực, thành phần kinh tế Các DNNVV hoạt động trong mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế xã hội: Thƣơng mại, dịch vụ, công nghiệp, xây dựng…và hoạt động dƣới mọi hình thức DNNVV, doanh nghiệp tƣ nhân, công ty cổ phần… Cụ thể theo báo cáo của tổng cục thống kê tại website gso.vn: “từ năm 2016, mỗi năm Việt Nam có thêm hơn 100 nghìn DN thành lập mới.
Trong hai năm 2017-2019, cả nƣớc có 358.134 DN đăng ký thành lập mới và 60.458 DN tạm ngừng hoạt động quay trở lại nhờ môi trƣờng KD đƣợc cải thiện và các chính sách của Nhà nƣớc hỗ trợ, PT DN. Sự gia tăng trở lại này trùng với thời điểm Luật DN và Luật Đầu tƣ chính thức có hiệu lực từ tháng 7/2015. Thực tế, các luật này tạo cơ chế thông thoáng, tác động trực tiếp, thuận lợi cho DN trong quá trình KD, khi DN có quyền tự quyết về số lƣợng, hình thức, nội dung của con dấu; đƣợc tự do KD trong những ngành nghề mà pháp luật không cấm; đồng thời, thời gian đăng ký thành lập DN đã đƣợc rút ngắn còn 03 ngày. Tính chung trong 9 tháng năm 2019, cả nƣớc có 96.611 DN thành lập mới với số vốn đăng ký là 963.411 tỷ đồng, tăng 2,8% về số DN và tăng 6,7% về số vốn đăng ký.
Riêng trong quý III/2019, cả nƣớc có 32.080 DN thành lập mới, giảm 15% so với quý II/2019 và giảm 1,9% so với cùng kỳ năm 2018. Tỷ trọng vốn đăng ký bình quân trên một DN đạt 10,0 tỷ đồng, tăng 3,8% so với cùng kỳ năm 2018. Số lao động đăng ký của các DN thành lập mới là 819.742 lao động, giảm 7,5% so với cùng kỳ năm 2018”. Các doanh nghiệp nhỏ và vừa có năng lực và trình độ lao động còn chưa cao, khó có khả năng thu hút được nhân tài.
Theo số liệu của Vneconomy tháng 1 năm 2020, có tới 55,63% số chủ DN có trình độ học vấn từ trung cấp trở xuống. Trong đó 43,3% chủ DN có trình độ học vấn ở cấp phổ thông. Cụ thể hơn, số ngƣời là tiến sĩ chỉ chiếm 0,66%, thạc sĩ chiếm 2,33%, đã tốt nghiệp đại học là 37,82%, tốt nghiệp cao đẳng chiếm 3,56%, tốt nghiệp trung học chuyên nghiệp chiếm 12% và 43,3% có trình độ thấp hơn. Đáng chú ý là đa số các chủ DN ngay cả những ngƣời có trình độ cao đẳng, đại học trở lên thì cũng rất ít ngƣời đƣợc đào tạo kiến thức về kinh tế và quản trị, quản lí DN.
Chủ yếu các chủ DN này là quản lí DN dựa trên kinh nghiệm tích lũy dần dần trong quá trình kinh doanh. Điều này có ảnh hƣởng khá lớn đến việc lập chiến lƣợc phát triển định hƣớng kinh doanh và quản lí của các DNNVV. Cơ cấu tổ chức và bộ máy sản xuất gọn nhẹ, hiệu quả, năng động và linh hoạt cao Theo nghiên cứu Viện hàn lâm KHXH Việt Nam cho thấy “DNNVV có bộ máy quản lý gọn nhẹ, các mối quan hệ điều chỉnh dễ dàng tạo tính linh hoạt cao, quan tâm trực tiếp tới thị trƣờng và ngƣời tiêu dùng sản phẩm. Từ đó việc đáp ứng nhu cầu, thị hiếu của thị trƣờng trở nên tốt hơn.
Bên cạnh đó, nó còn giúp DN tiết kiệm đƣợc chi phí về mặt tổ chức hành chính, chi phí quản lí, góp phần tăng lợi nhuận cho DN”. Khi nhu cầu của thị trƣờng thay đổi hay khi gặp khó khăn, nội bộ doanh nghiệp dễ dàng bàn bạc đi đến thống nhất thực hiện điều chỉnh, DNNVV dễ dàng thực hiện thay đổi máy móc thiết bị, chuyển hƣớng sản xuất kinh doanh các mặt hàng để đáp ứng nhanh chóng những nhu cầu mới của thị trƣờng, vƣợt qua khó khăn và đạt hiệu quả kinh tế cao trong thời gian ngắn. Doanh nghiệp nhỏ và vừa thường hạn chế trong cạnh tranh Với một số vốn ban đầu tƣơng đối nhỏ cùng với chu kỳ sản xuất của các doanh nghiệp cũng ngắn, diễn biến theo mùa nên tốc độ quay vòng vốn nhanh. Tuy nhiên do tiềm lực tài chính thấp nên DNNVV thiếu nguồn lực để thực hiện các ý tƣởng kinh doanh lớn, các dự án đầu tƣ lớn và trong thời gian dài.
Cũng do nguồn vốn hạn chế nên DNNVV thƣờng gặp khó khăn trong việc đầu tƣ cho nghiên cứu thiết kế cải tiến công nghệ, mua sắm và trang bị những công nghệ hiện đại đòi hỏi nguồn vốn lớn, hạn chế trong việc đào tạo và nâng cao trình độ cho đội ngũ nhân viên của mình, từ đó ảnh hƣởng đến năng suất lao động, chất lƣợng sản phẩm và tính cạnh tranh trên thị trƣờng. CHO VAY ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Khái niệm cho vay đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa của Ngân hàng thương mại Theo chủ nghĩa Marx- Lenin “Tư bản cho vay là tư bản tiền tệ tạm thời nhàn rỗi mà người chủ của nó cho nhà tư bản khác sử dụng trong thời gian nhất định để nhận được số tiền lời nào đó (gọi là lợi tức). Điều kiện tồn tại của tư bản cho vay là sản phẩm trở thành hàng hóa và tiền tệ đã phát triển các chức năng của mình” Theo khoản 1, Điều 2, Thông tƣ số 39/2016/TT-NHNN do Thống đốc NHNN Việt Nam ban hành ngày 30/12/2016 về Quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nƣớc ngoài đối với khách hàng và khoản 16, Điều 4, Luật các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 do Quốc hội ban hành ngày 16/6/2010 “Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín 14 dụng giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi” NHTM có thể tiến hành cho vay với nhiều đối tƣợng khách hàng nhƣ cá nhân, các DN… Tuy nhiên, tùy theo đối tƣợng vay vốn, khải niệm cho vay có thể hiểu theo những khía cạnh khác nhau.
Hiện nay, trong các đối tƣợng khách hàng của NHTM thì DNNVV là đối tƣợng khách hàng có nhiều tiềm năng nhất. Ƣu điểm của DNNVV không chỉ là sự gia tăng ngày càng lớn về số lƣợng mà còn là những đóng góp cho sự phát triển kinh tế và tăng thu nhập dân cƣ. Tóm lại, nhƣ vậy có thể hiểu một cách khái quát rằng: “Cho vay DNNVV là hình thức cho vay mà theo đó ngân hàng thương mại cho DNNVV sử dụng một khoản tiền để dùng vào mục đích và thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc hoàn trả cả gốc và lãi” 1. Vai trò của Ngân hàng thương mại trong cho vay đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa 1.