CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ HIỆU QUẢ CHO VAY DOANH NGHIỆP CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. HIỆU QUẢ CHO VAY DOANH NGHIỆP CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI. Hoạt động cho vay doanh nghiệp của Ngân hàng thương mại. Khái niệm cho vay doanh nghiệp của ngân hàng thương mại.
Th o khoản 1 điều 2 thông tư 3 /2 1 /TT – NHNN ban hành ngày 3 /12/2 1 và c hiệu lực thi hành kể từ ngày 15/3/2 17, quy định về hoạt động cho vay của TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng thì: “Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó t chức tín dụng giao hoặc cam kết cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một khoảng thời gian nhất định theo sự thoả thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc lẫn lãi”. Vậy Khái niệm cho vay DN của NHTM là: Cho vay doanh nghiệp là hình thức cấp tín dụng, th o đ ngân hàng giao cho khách hàng là doanh nghiệp một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một khoảng thời gian nhất định th o sự thoả thuận với nguyên tắc c hoàn trả cả gốc lẫn lãi 1 1. Đặc điểm cho vay doanh nghiệp của ngân hàng thương mại. - Số lượng khách hàng doanh nghiệp vay vốn tại NH chiếm t trọng thấp, nhưng dư nợ cho vay doanh nghiệp luôn chiếm t trọng lớn trong tổng dư nợ cho vay của NH.
Thông tin khách hàng c độ tin cậy hơn khách hàng cá nhân và hộ gia đình - Đối tượng cho vay doanh nghiệp của NH rất đa dạng vì DN hoạt động trong nhiều lĩnh vực khác nhau. - Nhu cầu vay của doanh nghiệp thường rất lớn trong khi khả năng đáp ứng về tài sản bảo đảm nợ vay của DN c giới hạn. - Chi phí tổ chức cho vay doanh nghiệp thường cao hơn cho vay cá nhân, hộ gia đình. Hiệu quả cho vay doanh nghiệp của ngân hàng thương mại.
Khái niệm hiệu quả cho vay doanh nghiệp. Khi bàn về hiệu quả cho vay doanh nghiệp của ngân hàng thương mại trước hết chúng ta bàn về: - Khái niệm hiệu quả cho vay Bất cứ một chủ thể kinh tế nào hoạt động trên thị trường đều mong đạt được hiệu quả cao. Vậy hiệu quả là gì ? Theo P. Nordhaus thì “Hiệu quả sản xuất diễn ra khi xã hội không thể tăng sản lượng một loạt hàng hóa mà không cắt giảm được một loạt sản lượng hàng hóa khác.
Một nền kinh tế có hiệu quả nằm trên giới hạn khả năng sản xuất của nó‟. Một số quan điểm khác lại cho rằng hiệu quả kinh tế được xác định bởi t số giữa kết quả đạt được và chi phí bỏ ra để có được kết quả đó. Điển hình cho quan điểm này là tác giả Manfr d Kuhn, th o ông : “Tính hiệu quả được xác định bằng cách lấy kết quả tính th o đơn vị giá trị chia cho chi phí kinh doanh”. Đây là quan điểm được nhiều nhà kinh tế và quản trị kinh doanh áp dụng vào tính hiệu quả kinh tế của quá trình kinh tế.
Từ các quan điểm về hiệu quả kinh tế thì có thể thấy bản chất của hiệu quả sản xuất kinh doanh là phản ánh mặt chất lượng của các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, phản ánh trình độ lợi dụng các nguồn lực để đạt được các mục tiêu của doanh nghiệp. Hiệu quả kinh tế là phạm trù phản ánh trình độ và khả năng đảm bảo thực hiện có kết quả cao những nhiệm vụ kinh tế - xã hội nhất định với chi phí nhỏ nhất. - Khái niệm hiệu quả tín dụng ngân hàng Hiệu quả tín dụng ngân hàng, một cách trực diện, thể hiện hiện tương quan các kết quả hoạt động tín dụng ứng với một mức chi phí thực hiện hoạt động tín dụng nhất định. Hoạt động tín dụng càng hiệu quả, thì kết quả tín dụng mà ngân hàng đạt được càng lớn ứng với một sơ sở vật chất, hạ tầng phần cứng, phần mềm, số lượng lao động và lượng nguồn vốn đầu vào nhất định.
Tuy nhiên, khác các hoạt động sản xuất kinh doanh khác, sản phẩm tín dụng không cho ra kết quả ngay khi ngân hàng bán sản phẩm tín dụng cho khách hàng. NH chỉ thu được chi phí đã bỏ ra và lãi khi khách hàng kết thúc việc sử dụng khoản tín dụng, do vây, doanh thu, lãi tại một thời điểm chưa phản ánh đúng kết quả, chi phí của hoạt động tín dụng. các yếu tố quyết 10 định khả năng thu hồi gốc và lãi khoản cho vay là vấn đề quyết định. Ngoài ra, do ngân hàng sử dụng phần lớn vốn đi vay để cho vay và hoạt động của NH c tác động mạnh mẽ tới vấn đề ổn định vĩ mô, tới môi trường kinh doanh, tới môi trường hoạt động của khách hàng, nên sự lành mạnh của hệ thống ngân hàng cũng sẽ quyết định không chỉ chi phí đầu vào, khả năng tạo nguồn, mà cả các kết quả tín dụng.
hiệu quả tín dụng ngân hàng còn được x m x t ở g c độc kinh tế và g c độ thương hiệu, uy tín. Hiệu quả tín dụng đứng trên g c độ kinh tế đ là các khoản lợi nhuận mang lại từ hoạt động tín dụng bởi vì khi ngân hàng c được lợi nhuận từ việc cấp tín dụng c nghĩa việc cấp tín dụng đ m lại lợi ích kinh tế cho ngân hàng. Ở g c độ thương hiệu, uy tín, hiệu quả tín dụng thể hiện ở việc hình thành nên tên tuổi, hình ảnh của NH, qua đ tác động tới khả năng thu hút các khách hàng tốt, tiềm năng mở rộng và tăng lợi ích kinh tế ở các mảng hoạt động khách của ngân hàng và ở chinh bản thân hoạt động tín dụng trong tương lại. Những khoản vay của NH được coi là có hiệu quả phải đáp ứng được rất nhiều tiêu chí của các chủ thể tham gia hoạt động này, bao gồm: NHTM, các DN và nền kinh tế.
Đối với ngân hàng: Hiệu quả tín dụng đòi hỏi các hoạt động tín dụng ngân hàng phải đ m lại mục tiêu lợi ích kinh tế nhất định, nhưng đồng thời phạm vi, mức độ giới hạn, cơ cấu… tín dụng phải phù hợp với năng lực của bản thân ngân hàng, đảm bào nguyên tắc tín dụng, hạn chế đến mức thấp nhất rủi ro trong quá trình hoạt động kinh doanh, vấn đề thanh khoản và cạnh tranh của ngân hàng, đảm bảo an toàn hoạt động ngân hàng Đối với các DN: một khoản vay c hiệu quả phải là khoản vay đáp ứng được đầy đủ nhu cầu về vốn, thời gian cho hoạt động S KD của DN, giúp DN thu được lợi nhuận, bù đắp chi phí bỏ ra. Đồng thời, khoản vay đ phải được trả NH đầy đủ và đúng hạn. Đối với toàn ộ nền kinh tế: hoạt động cho vay c hiệu quả khi n g p phần thúc đẩy S KD phát triển, tạo ra sự ổn định, lưu thông tiền tệ. Khoản vay hiệu quả còn phải được x m x t ở những yếu tố như công ăn việc làm, lợi ích xã hội,… của chính khoản vay đ đ m lại hoặc thực hiện các chính sách của Nhà nước như thay đổi cơ cấu ngành, vùng.
11 Hiệu quả tín dụng ngân hàng cả ba g c độ này c quan hệ mật thiết với nhau, không thể tách rời nhau. Nếu hiệu quả tín dụng ngân hàng chỉ được x m x t ở g c độ ngân hàng, không phù hợp với đặc trưng, nhu cầu của khách hàng, thì hiệu quả đ sẽ chỉ là ngắn hạn, hoặc thiếu tính khả thi. Khách hàng sẽ không hoạt động hiệu quả, không c nguồn hoàn trả cho ngân hàng, ngân hàng sẽ không c được lợi ích kinh tế từ hoạt động tín dụng. Khi các đơn vị kinh doanh không tồn tại, phát triển được, hệ thống ngân hàng không thu hồi được các khoản cho vay, thì nền kinh tế sẽ rơi vào tình trạng thu hẹp, trì trệ, chứ không n i đến vấn đề phát triển.
Trong phần này của luận văn, người viết đề cập sâu đến hiệu quả kinh tế của hoạt động cho vay trên g c độ NHTM. Vậy ta c khái niệm tổng quát về hiệu quả cho vay DN của NHTM là: “Hiệu quả cho vay DN là sự đáp ứng kịp thời, đầy đủ và chính xác nhu cầu về vốn cho DN nằm trong khả năng của ngân hàng trên cơ sở đảm bảo an toàn và sinh lợi cho ngân hàng” 1. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả cho vay doanh nghiệp của ngân hàng thương mại. Trên thực tế c rất nhiều chỉ tiêu để đánh giá hiệu quả cho vay DN của NHTM về nhiều khía cạnh khác nhau, tuỳ th o yêu cầu và mục đích của việc đánh giá.
Để đánh gía tổng quát về hiệu quả cho vay của NHTM ta c thể đánh giá một cách tổng quát về nh m chỉ tiêu về hiệu quả kinh tế của khoản cho vay và nh m chỉ tiêu phản ánh về mức độ an toàn của khoản cho vay: - Nhóm chỉ tiêu phản ánh về hiệu quả kinh tế c a khoản vay. Đây là nh m chỉ tiêu phản ánh khả năng đáp ứng nhu cầu về vốn vay của khách hàng, hay hiệu quả cho vay của ngân hàng về mặt số lượng. Dư nợ cho vay: Phản ánh tổng dư nợ cho vay của ngân hàng tại một thời điểm nhất định, thường là cuối kỳ kinh doanh. Tổng dư nợ cho vay bao gồm tổng dư nợ cho vay ngắn hạn, trung hạn.
Tổng dư nợ cho vay cao và tăng trưởng nhìn chung phản ánh một phần hiệu quả hoạt động tín dụng tốt và ngược lại tổng dư nợ tín dụng thấp, ngân hàng không c khả năng mở rộng hoạt động cho vay hay mở rộng thị phần, khả năng tiếp thị của ngân hàng k m.Tuy nhiên tổng dư nợ cao chưa hẳn đã phản ánh hiệu quả tín dụng của ngân hàng cao vì đôi khi n là biểu hiện cho sự tăng 12 trưởng n ng của hoạt động tín dụng, vượt quá khả năng về vốn cũng như khả năng kiểm soát rủi ro của ngân hàng, hoặc mức dư nợ cao, hoặc tốc độ tăng trưởng nhanh do mức lãi suất cho vay của ngân hàng thấp hơn so với thị trường dẫn đến t suất lợi nhuận giảm Cơ cấu dư nợ phản ánh t trọng của các loại dư nợ trong tổng dư nợ. NH thường đánh giá cơ cấu dư nợ th o thời hạn (ngắn hạn, trung hạn và dài hạn), cơ cấu dư nợ th o ngành nghề, cơ cấu dư nợ th o thành phần kinh tế ( Doanh nghiệp nhà nước, DN tư nhân, cá nhân.