CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CHO VAY ĐỐI VỚI KHÁCH HÀNG DOANH NGHIỆP CỦA NHTM 1. TỔNG QUAN VỀ KHÁCH HÀNG DOANH NGHIỆP 1. Khái niệm doanh nghiệp Khái quát đơn giản về doanh nghiệp, khái niệm doanh nghiệp có thể hiểu ngắn gọn là một tổ chức kinh tế, hay một thành phần kinh tế tham gia trong chu trình của nền kinh tế, tham gia thực hiện các hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hóa và dịch vụ trên thị trường với mục đích kiếm lời từ hoạt động kinh doanh hoặc vì mục đích xã hội, công cộng. Tùy thp từng ngành nghề hoạt động kinh doanh, lĩnh vực sản xuất, hình thức tổ chức doanh nghiệp, địa bàn hoạt động mà doạnh nghiệp được gọi tên bởi nhiều loại hình khác nhau như: Xí nghiệp, doanh nghiệp nhà nước, công ty, nhà xưởng, nhà máy sản xuất, … Theo khoản 10, điều 4 của Luật doanh nghiệp 2020 số 59/2020/QH13 ngày 17 tháng 06 năm 2020 của Quốc hội Việt Nam thì khái niệm doanh nghiệp được phát biểu như sau: “ Doanh nghiệp là tổ chức có tên riêng, có tài sản, trụ sở giao dịch, được thành lập hoặc đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh”.
Như vậy, doanh nghiệp là một thành phần kinh tế độc lập, được gọi với tên gọi riêng cấp bởi cơ quan có thẩm quyền thể hiện theo đăng ký kinh doanh doanh nghiệp, có đầy đủ cơ cấu bộ máy tổ chức, cơ cấu bộ máy điều hành tùy thuộc theo từng loại hình doanh nghiệp đăng ký như: TNHH, cổ phần, hay tư nhân, …., cơ cấu tổ chức nhân sự rõ ràng. Doanh nghiệp đảm bảo hoạt động dựa trên nguyên tắc có tài sản riêng để quản lý và trụ sở công ty riêng, đăng ký theo đúng quy định. Hoạt động kinh doanh, sản xuất trên thị trường của doanh nghiệp đảm bảo tuân thủ pháp luật đồng thời căn cứ theo từng loại hình doanh nghiệp mà chịu mọi trách nhiệm về hoạt động kinh doanh của mình, sinh lợi hoặc hoạt động không vì tối đa hóa lợi ích của doanh nghiệp mà vì lợi ích phục vụ tạo giá trị gia tăng cho công đồng, môi trường và xã hội, các mục đích mang tính nhân văn. Khái niệm, đặc điểm và vai trò của khách hàng doanh nghiệp 1.
Khái niệm khách hàng doanh nghiệp “Khách hàng doanh nghiệp” là thuật ngữ được sử dụng để nói về một nhóm người tiêu dùng trên thị trường với những đặc điểm riêng biệt. Họ chính là những cá nhân, nhóm người của tập thể, tổ chức, công ty tiến hành giao dịch thương mại với các doanh nghiệp. Nhóm khách hàng này hoàn toàn khác biệt với người tiêu dùng cá nhân thông thường, đặc biệt ở chỗ họ mua sắm hàng hóa, dịch vụ để phục vụ cho nhu cầu trực tiếp của tổ chức, công ty, doanh nghiệp mình. Ngay cả khi chỉ là một cá nhân đơn thuần tiến hành giao dịch thì họ là đại diện trên cương vị của tập thể nào đó.
Ngoài ra, khách hàng doanh nghiệp còn là mối quan hệ giữa nhà sản xuất với nhà bán buôn hoặc nhà bán buôn với các nhà bán lẻ. Quan trọng giữa họ diễn ra quá trình giao dịch hàng hóa, dịch vụ cụ thể. Lúc này, hàng hóa sẽ vẫn làm trong quá trình lưu thông và vẫn chưa được đưa vào quá trình tiêu dùng. Như vậy, khách hàng doanh nghiệp ngoài việc mua sắm các sản phẩm, dịch vụ cho nhu cầu sử dụng còn có thể là cả nhu cầu kinh doanh, buôn bán.
Nhưng bao giờ họ cũng mua sắm với số lượng lớn hoặc sử dụng dịch vụ của bạn trong thời hạn lâu dài cho mục đích cụ thể. Trên góc độ của NHTM, quan niệm khách hàng doanh nghiệp được hiểu đơn giản là các tổ chức, công ty, pháp nhân có nhu cầu về dịch vụ tài chính của ngân hàng nhằm hỗ trợ cho hoạt động kinh doanh, sản xuất. Doanh nghiệp sau khi hoàn tất các thủ tục hồ sơ pháp lý, sau một thời gian bắt đầu kinh doanh, doanh nghiệp sẽ phát sinh nhu cầu về bổ sung vốn đầu tư phục vụ nhập nguyên vật liệu, hàng hóa đầu vào và các chi phí khác cần thiết cho quá trình sản xuất kinh doanh hay đầu tư máy móc thiết bị, nhà xưởng, tài sản, nhu cầu thanh toán cho các đối tác trong nước và quốc tế, … Doanh nghiệp sẽ tiếp cận các nguồn vốn của ngân hàng với mức chi phí được gọi là lãi suất để đáp ứng nhu cầu về bổ sung vốn của mình. Đặc điểm của khách hàng doanh nghiệp Khách hàng doanh nghiệp đảm bảo đầy đủ tính hợp pháp theo quy định của pháp luật và được gọi là “ pháp nhân”, đồng thời được Nhà nước công nhận 9 sự tồn tại, hoạt động kinh doanh dựa trên Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh thường đưuọc cấp bởi Sở kế hoạch và đầu tư tỉnh/thành phố, các bộ/ban ngành, các sở, … hay các cấp cơ quan có thẩm quyền.
Ngoài ra, doanh nghiệp hoạt động có tính tổ chức, thường tự xây dựng bộ máy tổ chức, cơ cấu nhân sự đầy đủ, đồng thời chịu trách nhiệm hoạt động kinh doanh, sản xuất trên cơ sở tài sản của doanh nghiệp. Khách hàng doanh nghiệp đa dạng và phong phú được thể hiện qua loại hình hoạt động kinh doanh đa dạng như công ty TNHH một hoặc nhiều thành viên, công ty cổ phần, hợp tác xã, doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp liên doanh, … Lĩnh vực hoạt động kinh doanh không giới hạn với đa dạng ngành nghề kinh doanh, là chuỗi cung ứng hoặc sản xuất từ các nhu yếu phẩm thiết yếu cho đến các sản phẩm hàng hiệu cao cấp; có nhiều quy mô lớn nhỏ khác nhau: KHDN lớn, KHDN vừa và nhỏ, KHDN siêu nhỏ, … Thông tin thuộc về đối tượng KHDN tương đối rõ ràng, chặt chẽ do các hoạt động doanh nghiệp đều liên quan đến tài chính, tài sản của công ty và được thể hiện qua hệ thống số liệu kể toán, sổ sách theo dõi kế toàn, báo cáo tài chính. Doanh nghiệp thường có các thông tin tài chính tương đối rõ ràng, minh bạch qua hệ thống báo cáo tài chính thuế hoặc báo cáo tài chính được kiểm toán. Mục đích vay vốn của KHDN khá đa dạng, từ đơn giản cho đến cầu kỳ, như phục vụ hoạt động kinh doanh sản xuất thường xuyên; nâng cao, tăng quy mô doanh nghiệp; đầu tư tài sản cố định, máy móc thiết bị, nhà xưởng, … với mục tiêu chính là đảm bảo thu được lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh hoặc hướng đến các mục đích vì cộng đồng, công cộng, môi trường và xã hội.
Nguồn trả nợ của KHDN trực tiếp dựa trên lợi nhuận kinh doanh, cung cấp dịch vụ, hàng hóa của doanh nghiệp và gián tiếp từ khấu hao tài sản cố định phân bổ vào hoạt động kinh doanh qua các kỳ kinh doanh hay tài sản hình thành từ các phương án đầu tư của doanh nghiệp. Vai trò của doanh nghiệp đối với nền kinh tế Vai trò của nhóm đối tượng này là vô cùng quan trọng đối với thị trường và nền kinh tế. 10 Thứ nhất, doanh nghiệp đóng vai trò là chuỗi cung ứng khối lượng hàng hóa, dịch vụ từ thiết yếu đến cao cấp cho thị trường. Trên thi trường hàng hóa, các doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng từ khâu trực tiếp sản xuất tạo ra các mặt hàng đáp ứng nhu cầu của thị trường, đồng thời tạo sự thanh khoản cho hàng hóa, dịch vụ đó và đưa các sản phẩm dịch vụ, hàng hóa đến tay người tiêu dùng cuối cùng.
Doanh nghiệp cũng chính là những đơn vị phát minh ra và phát triển các loại sản phẩm mới, các dịch vụ thay thế lẫn nhau tạo cho thị trường hàng hóa, dịch vụ luôn vận động và tạo điều kiện cho người tiêu dùng đa dạng trong việc lựa chọn các sản phẩm, dịch vụ khác nhau. Thứ hai, đóng vai trò là đòn bẩy nền kinh tế phát triển, vận động một cách liên tục và hiệu quả hơn. Kinh tế thị trường luôn xoay mình và chuyển động tính tiến về phía trước, ngày càng phát triển và người tiêu dùng ngày càng khắt khe và nhu cầu ngày càng cao cấp hơn. Các doanh nghiệp song song cũng luôn vận động để kịp thời và kịp thích ứng với sự chuyển động của nền kinh tế thị trường.
Vòng lặp diễn ra nối tiếp nhau như vậy khiến cho nền kinh tế luôn xoay mình vận động một cách linh hoạt và phát triển liên tục. Thứ ba, tạo công ăn việc làm cho nhiều tầng lớp lao động, góp phần ổn định và nâng cao đời sống xã hội. Một trong những chi phí đầu vào chiếm tỷ trọng lớn và tiên quyết của doanh nghiệp là nhân sự, doanh nghiệp luôn tìm kiếm và thu hút nguồn nhân lực đảm bảo duy trì hoạt động kinh doanh sản xuất liên tục đồng thời tìm kiếm những nhân tố là đòn bẩy cho sự phát triển về của hàng hóa nói chung và doanh nghiệp nói riêng. Song song với đó doanh nghiệp đã tạo ra công ăn việc làm cho nhiều khu vực địa lý, nhiều tầng lớp lao động từ già cho đến trẻ, trai hay gái, vùng đồng bằng hay vùng núi, vùng sâu vùng xa, các khu vực kinh tế, hay lao động có chuyên môn lĩnh vực tay nghề khác nhau, ….
Thế mạnh của doanh nghiệp là có khả năng tạo ra sự thu hút đối với đông đảo lực lượng lao động trong xã hội cùng tham gia vào quá trình hoạt động kinh doanh, sản xuất là tiền đề cho sự phát triển, tăng trưởng của nền kinh tế. HOẠT ĐỘNG CHO VAY ĐỐI VỚI KHÁCH HÀNG DOANH NGHIỆP CỦA NHTM 1. Khái niệm cho vay đối với khách hàng doanh nghiệp Cấp tín dụng là hoạt động kinh doanh cốt lõi của NHTM, góp phần chính vào lợi nhuận của ngân hàng, trong đó chiếm tỷ trọng chính và cốt lõi nhất vẫn là hoạt động cho vay. Đối tượng khách hàng có thể vay vốn tại NHTM khá đa dạng: đối tượng cá nhân; Tổ chức, công ty, doanh nghiệp hay chính các NHTM, TCTD khác.
Căn cứ theo mục đích vay vốn, đặc thù về khoản vay, thời hạn trả nợ hay các đặc điểm riêng mà từ đó sẽ sinh ra những khái niệm cho vay khác nhau. Trong đó, cho vay đối với KHDN vẫn luôn là hoạt động với nhiều tiềm năng và đóng góp cho NHTM nguồn thu nhập, lợi nhuận lớn.