CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ KHẢ NĂNG TIẾP CẬN VỐN TÍN DỤNG CỦA DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA 1. Khái quát về vốn tín dụng ngân hàng 1. Khái niệm tín dụng ngân hàng Một số khái niệm điển hình về vốn tín dụng ngân hàng như sau: Theo Luật các TCTD năm 2010 đã được Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam thông qua thì: “Hoạt động cấp tín dụng nghĩ là việc tổ chức, cá nhân đồng ý sử dụng tiền hoặc thực hiện nghĩa vụ sử dụng tiền hoặc nghĩa vụ cho phép sử dụng tiền theo nguyên tắc hoàn trả tín dụng hoặc các hình thức tương tự khác như chiết khấu, hình thức cho thuê tài chính, hoạt động bao thanh toán, hoạt động bảo lãnh ngân hàng và các giao dịch cho vay khác”. Theo Nguyễn Minh Kiều (2009): “Khái niệm này được hiểu là việc chuyển giao quyền sử dụng vốn từ ngân hàng cho khách hàng trong một thời gian xác định với một chi phí xác định”.
Theo Lê Thị Mận (2013): “Khái niệm này về cơ bản là sự chuyển nhượng tạm thời quyền sử dụng vốn từ đơn vị cấp vốn là ngân hàng cho đơn vị sử dụng vốn là khách hàng trong một khoản thời gian định trươc và chi phí đã được thỏa thuận giữa ngân hàng và khách hàng”. Như vậy, Cho vay hay cấp tín dụng ngân hàng là quan hệ vay và mượn giữa đơn vị là ngân hàng với mọi người dân, tổ chức, doanh nghiệp trong xã hội. Đây có thể xem quan hệ di chuyển vốn gián tiếp thông qua một trung gian là ngân hàng. Như vậy, tín dụng ngân hàng là quan hệ hoàn trả, tạm chuyển quyền sử dụng vốn giữa ngân hàng với các tác nhân kinh tế khác, là giao dịch tài sản trên cơ sở quan hệ của ngân hàng với các tác nhân kinh tế khác, có qua có lại.
Đặc điểm của tín dụng ngân hàng - Tín dụng một mối quan hệ được xây dựng trên niềm tin và danh tiếng Một trong những yêu cầu quan trọng nhất đối với khách hàng mà ngân hàng cho vay là “độ tin cậy”. Bên cho vay sử dụng kinh nghiệm, kỹ năng và khả năng đánh giá khách hàng của mình để xác định mức độ tin cậy của người vay trước khi xem xét các điều khoản khác. 21 Uy tín ngày càng trở nên quan trọng hơn trong hoạt động cho vay của ngân hàng hiện nay. Các hình thức bảo đảm tín dụng khác được yêu cầu, chẳng hạn như cầm cố, thế chấp và bảo lãnh của bên thứ ba, nhưng “sự tín nhiệm” giữa các bên vẫn là một yếu tố quan trọng trong việc thiết lập quan hệ tín dụng (Nguyễn Đăng Dờn, 2010).
- Tín dụng là hoạt động có rủi ro cao Rủi ro trong hoạt động này đến từ nhiều khía cạnh khác nhau như khách hàng, ngân hàng, kinh tế, xã hội, chính trị và nhiều yếu tố khác (Nguyễn Đăng Dờn, 2010). Rủi ro từ phía khách hàng có thể kể đến như: Rủi ro dẫn đến phá sản của khách hàng (năng lực tài chính, năng lực sản xuất, quản lý khách hàng kém, rủi ro do nguyên nhân), thiên tai, hỏa hoạn, v. Rủi ro từ phía ngân hàng: Rủi ro từ quản lý tín dụng, giám sát ngân hàng kém, rủi ro từ quản lý tín dụng yếu kém của ngân hàng, rủi ro từ đạo đức nhân sự. Hoạt động tín dụng cũng bị ảnh hưởng bởi các rủi ro như biến động kinh tế xã hội, thay đổi chính sách quản lý, bất ổn chính trị.
Điều này cho thấy hoạt động cho vay tiềm ẩn nhiều rủi ro và vấn đề quản lý uy tín tín dụng ảnh hưởng đến hiệu quả tín dụng ngân hàng. Vai trò của tín dụng ngân hàng ➢ Đối với bản thân ngân hàng Nguồn vốn tín dụng của ngân hàng chủ yếu mang lại lợi ích cho ngân hàng và nâng cao khả năng cạnh tranh của họ. Hoạt động cho vay ngân hàng là hoạt động chính và nguồn thu chủ yếu ngân hàng. Đặc biệt, các khoản cho vay trung và dài hạn có đặc điểm là khối lượng cap, lãi suất cao và thời hạn dài.
Điều này sẽ nâng cao năng lực và thương hiệu của các ngân hàng thương mại. Giúp thu hút và giữ chân khách hàng trong tương lai. Bằng cách cho khách hàng vay tiền, các ngân hàng đã giữ chân và tạo ra những khách hàng tương lai. 22 Hoạt động cho vay góp phần đa dạng hóa hoạt động kinh doanh của Ngân hàng và giúp Ngân hàng mở rộng mục tiêu, phạm vi đầu tư, từ đó hạn chế những rủi ro phát sinh trong hoạt động kinh doanh của Ngân hàng.
➢ Đối với khách hàng Tín dụng giúp người đi vay sẽ có điều kiệm phát triển kinh doanh riêng, gia tăng nhu cầu vốn của doanh nghiệp và cá nhân, đồng thời tạo điều kiện cho người vay chuyển đổi vốn, chuyển đổi công nghệ mới, chuyển đổi cơ cấu sản xuất là một nguồn tài trợ hữu ích. Do hầu hết các doanh nghiệp nhỏ vừa đều rất cần gia tăng vốn nên có thể nói vốn vay ngân hàng có thể là trợ thủ đắc lực để người vay đáp ứng và tận dụng các cơ hội sản xuất. ➢ Đối với nền kinh tế Hoạt động tín dụng của ngân hàng góp phần tạo nên sự lưu thông an toàn về vốn trong nền kinh tế, hạn chế cung lưu thông tiền nhiều trong dân. Ngân hàng thương mại với vai trò trung gian tài chính, tập trung vốn nhàn rỗi trong nhân dân và cho những người có nhu cầu vay.
Thông qua tài chính, đất nước có thể xây dựng cơ sở hạ tầng, cập nhật khoa học và công nghệ, đẩy nhanh quá trình tái sản xuất và mở rộng, đầu tư vào phát triển kinh tế, tạo điều kiện lưu thông hàng hóa và đẩy nhanh quá trình phát triển kinh tế. Khái quát về doanh nghiệp nhỏ và vừa 1. Khái niệm và phân loại doanh nghiệp nhỏ và vừa 1. Khái niệm doanh nghiệp nhỏ và vừa Với tên gọi doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) có thể hiểu những doanh nghiệp có nền tảng nhỏ vé về mặt vốn, lao động hay doanh thu.
DNNVV có thể chia thành ba loại căn cứ vào quy mô nguồn vốn hoặc số lượng lao động là doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp vừa. Tại Việt Nam, theo nghị định 39/2018/NĐ-CP nêu rõ: “DNNVV là các đơn vị kinh doanh và đã thông qua việc đăng ký đúng luật, đồng thời phân thành 3 cấp khách nhau theo quy mô hoạt động gồm: DN nhỏ, DN vừa và DN siêu nhỏ” 23 1. Phân loại doanh nghiệp nhỏ và vừa Tại Việt Nam, phân loại DNNVV dựa theo nghị định mới nhất số 39/2018/NĐ-CP bao gồm ba nhóm: Doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ các doanh nghiệp vừa, cụ thể: - DN siêu nhỏ: “Số lao động tham gia BHXH bình quân năm ít hơn hoặc bằng 10 người, tổng doanh thu năm ít hơn hoặc bằng 10 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn ít hơn hoặc bằng 3 tỷ đồng (trước đây chưa phân loại) (trước đây không phân loại dựa vào vốn)” (Nghị định 39/2018/NĐ-CP). - Doanh nghiệp nhỏ: “Có số lao động bình quân năm thuộc diện đóng BHXH từ 50 người trở xuống, tổng doanh thu năm từ 100 tỷ đồng trở xuống hoặc tổng nguồn vốn từ 50 tỷ đồng trở xuống (trước đây là 10 tỷ đồng trở xuống))” (Nghị định 39/2018/NĐ-CP).
- Doanh nghiệp vừa: “Số lao động tham gia BHXH bình quân hàng năm ít hơn hoặc bằng 100 người, tổng doanh thu hàng năm ít hơn hoặc bằng 300 tỷ đồng, tổng nguồn vốn ít hơn hoặc bằng 100 tỷ đồng” (Nghị định 39/2018/NĐ-CP). Đặc điểm kinh tế doanh nghiệp nhỏ và vừa DNNVV có những đặc điểm như sau: Thứ nhất, DNNVV dễ dàng được thành lập với quy mô vốn nhỏ, chi phí thấp, tốc độ quay vòng vốn và hiệu quả cao. “Do vốn chủ sở hữu của DNNVV không cần nhiều, doanh nghiệp có thể hoạt động kinh doanh trong nhiều lĩnh vực ngành nghề khác nhau. DNNVV có thể được thành lập với quy mô nhà xưởng, điều kiện cơ sở hạ tầng và đầu tư thiết bị không lớn, số lượng lao động không nhiều do đó các chi phí bỏ ra ban đầu để bước vào hoạt động nhỏ, DN vẫn có thể tiến hành sản xuất kinh doanh.
Hơn nữa cũng chính bởi tính chất quy mô nhỏ trong cả nguồn vốn và lao động, công tác kiểm tra, thanh tra và thay đổi phương hướng sản xuất kinh doanh cho phù hợp và đạt hiệu quả cao cũng được tiến hành nhanh chóng và thuận tiện hơn” (Lê Thị Thu Thủy, 2017). Thứ hai, DNNVV dễ dàng đổi mới và ứng dụng trang thiết bị công nghệ. “DNNVV với đầu tư về trang thiết bị và cơ sở sản xuất quy mô nhỏ, khi có sự 24 thay đổi trong phương án kinh doanh, việc đầu tư trang thiết bị mới cũng sẽ không tốn quá nhiều chi phí như DN lớn. Khi DN lớn muốn thay đổi sản phẩm hay thay đổi trang thiết bị, đồng nghĩa với việc phải thay đổi cả dây chuyền sản xuất với nhiều máy móc thiết bị, chi phí mua máy móc mới là rất lớn, việc thanh lý dây chuyền cũ cũng sẽ gặp nhiều khó khăn.
Ngược lại, quy mô nhỏ là một lợi thế cho các DNNVV khi thay đổi trang thiết bị và thanh lý máy móc cũ” (Lê Thị Thu Thủy, 2017). Thứ ba, DNNVV nhạy cảm và thích ứng nhanh với sự thay đổi của thị trường mạnh dạn tham gia những ngành mới. “Có rất nhiều các DNNVV hoạt động trong lĩnh vực cung cấp hàng hoá dịch vụ, hàng tiêu dùng trực tiếp cho dân chúng, do đó các DN này rất nhạy cảm với việc phát hiện ra các thay đổi trong thị yếu và sở thích người tiêu dùng. Để đáp ứng sự thay đổi đó, DNNVV cũng dễ dàng có những phương án sản xuất mới đáp ứng nhanh nhạy nhu cầu của thị trường, sự thay đổi này không quá khó khăn với các DNNVV vì họ có quy mô kinh doanh nhỏ hơn các công ty lớn.
Hàng tồn kho và xử lý hàng tồn kho cũng dễ dàng hơn, khi thay đổi và sản xuất mặt hàng mới. Do vậy hiệu quả kinh doanh của DN cũng tăng lên” (Lê Thị Thu Thủy, 2017). Thứ tư, DNNVV có thể gặp bất lợi trong cạnh tranh với các DN lớn cùng ngành nghề, chi phí biến đổi lớn, thị trường hạn chế. “Với các DN lớn, do sản xuất hàng hóa với quy mô lớn, giá thành nguyên liệu đầu vào cũng thấp hơn so với các DN nhỏ, trang thiết bị hiện đại hơn cũng tiết kiệm nhiên liệu hơn, do đó giá thành rẻ hơn so với các DNNVV.
Vì vậy DNNVV sẽ gặp nhiều khó khăn nếu có các DN lớn cùng tham gia sản xuất.