Động lực kinh doanh của nữ chủ doanh nghiệp nhỏ và vừa tại tiểu vùng Tây Bắc

Luận án tiến sĩ nghiên cứu nhân tố ảnh hưởng động lực kinh doanh của nữ chủ doanh nghiệp nhỏ và vừa tiểu vùng Tây Bắc, đề xuất chính sách hỗ trợ phụ nữ.

Trường đại học

Đại Học Kinh Tế Quốc Dân

Chuyên ngành

Quản Trị Kinh Doanh

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2020

221
11
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. PHẦN MỞ ĐẦU

1.1. Lý do lựa chọn đề tài

1.2. Mục tiêu nghiên cứu

1.3. Câu hỏi nghiên cứu

1.4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1.5. Phương pháp nghiên cứu

1.6. Đóng góp của luận án

1.7. Bố cục luận án

2. CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY

2.1. Tổng quan về động lực và động lực kinh doanh

2.2. Tổng quan về động lực kinh doanh

2.3. Tổng quan nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến động lực kinh doanh

2.4. Tổng quan các nghiên cứu ở nước ngoài

2.5. Tổng quan các nghiên cứu ở trong nước

2.6. Xác định khoảng trống và định hướng nghiên cứu

2.7. TÓM TẮT CHƯƠNG 2

3. CHƯƠNG 3: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU

3.1. Cơ sở lý thuyết liên quan đến các nhân tố ảnh hưởng tới động lực kinh doanh

3.2. Lý thuyết về tính cách cá nhân

3.3. Lý thuyết thể chế

3.4. Mô hình và giả thuyết nghiên cứu

3.5. Mô hình nghiên cứu của luận án

3.6. Phát triển giả thuyết nghiên cứu

3.7. TÓM TẮT CHƯƠNG 3

4. CHƯƠNG 4: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

4.1. Nghiên cứu định tính

4.2. Mục tiêu nghiên cứu định tính

4.3. Nội dung của nghiên cứu định tính

4.4. Nghiên cứu định lượng

4.5. Mục tiêu nghiên cứu định lượng

4.6. Nội dung nghiên cứu định lượng

4.7. Khái quát quy trình nghiên cứu

4.8. TÓM TẮT CHƯƠNG 4

5. CHƯƠNG 5: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

5.1. Chỉ báo mới được khám phá sau nghiên cứu định tính

5.2. Kết quả nghiên cứu định lượng

5.3. Một số chỉ báo bị loại sau nghiên cứu định lượng sơ bộ

5.4. Kết quả nghiên cứu định lượng chính thức

5.5. Kết luận về các giả thuyết nghiên cứu

5.6. TÓM TẮT CHƯƠNG 5

6. CHƯƠNG 6: THẢO LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ

6.1. Thảo luận kết quả nghiên cứu

6.2. Một số khuyến nghị

6.2.1. Đối với các cơ quan quản lý vĩ mô

6.2.2. Đối với bản thân phụ nữ, nữ chủ DNNVV

6.2.3. Cải thiện môi trường kinh doanh, phát huy truyền thống văn hóa xã hội theo hướng hiện đại

6.3. Hạn chế của luận án và hướng nghiên cứu tiếp theo

CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN CỦA TÁC GIẢ

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Giới thiệu về động lực kinh doanh của nữ doanh nhân

Động lực kinh doanh của nữ chủ doanh nghiệp nhỏ tại Tây Bắc có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy sự phát triển kinh tế địa phương. Động lực kinh doanh không chỉ giúp các nữ doanh nhân duy trì hoạt động của doanh nghiệp mà còn tạo ra nhiều cơ hội việc làm cho cộng đồng. Theo nghiên cứu, tỷ lệ nữ doanh nhân trong khu vực này đang tăng lên, đặc biệt trong lĩnh vực doanh nghiệp nhỏ và vừa. Việc thúc đẩy khởi nghiệp nữ không chỉ mang lại lợi ích kinh tế mà còn nâng cao vị thế của phụ nữ trong xã hội. Các yếu tố như khả năng tiếp cận vốn, hỗ trợ từ gia đình và cộng đồng, cũng như các chính sách của nhà nước có ảnh hưởng sâu sắc đến động lực kinh doanh của họ.

1.1. Tầm quan trọng của nữ doanh nhân trong phát triển kinh tế

Nữ doanh nhân đóng góp đáng kể vào sự phát triển kinh tế của khu vực Tây Bắc. Theo thống kê, khoảng 31-38% tổng số doanh nghiệp nhỏ trong khu vực chính thức do phụ nữ làm chủ. Họ không chỉ tham gia vào việc tạo ra giá trị kinh tế mà còn góp phần giải quyết vấn đề việc làm cho nhiều lao động nữ. Doanh nghiệp nhỏ do phụ nữ điều hành thường có khả năng thích ứng tốt hơn với các thay đổi của thị trường và có thể tạo ra các sản phẩm và dịch vụ đáp ứng nhu cầu của cộng đồng địa phương. Hơn nữa, phát triển kinh doanh của nữ giới còn giúp nâng cao ý thức về bình đẳng giới và quyền lợi của phụ nữ trong xã hội.

II. Các nhân tố ảnh hưởng đến động lực kinh doanh

Nghiên cứu chỉ ra rằng có nhiều nhân tố ảnh hưởng đến động lực kinh doanh của nữ chủ doanh nghiệp nhỏ tại Tây Bắc. Trong đó, các yếu tố cá nhân như trình độ học vấn, kinh nghiệm làm việc, và sự tự tin đóng vai trò quan trọng. Ngoài ra, các yếu tố môi trường như tình hình kinh doanh, hỗ trợ từ gia đình, và chính sách của chính phủ cũng có ảnh hưởng không nhỏ. Đặc biệt, sự hỗ trợ từ các tổ chức phi chính phủ và các chương trình đào tạo dành cho phụ nữ có thể giúp nâng cao động lực kinh doanh. Những rào cản như thiếu thông tin, khó khăn trong việc tiếp cận nguồn vốn và định kiến xã hội cũng cần được xem xét để tìm ra giải pháp phù hợp.

2.1. Rào cản trong việc khởi nghiệp của nữ doanh nhân

Một trong những rào cản lớn nhất đối với nữ doanh nhân tại Tây Bắc là thiếu thông tin và hỗ trợ tài chính. Nhiều nữ chủ doanh nghiệp không có đủ kiến thức và kỹ năng cần thiết để quản lý và phát triển doanh nghiệp nhỏ. Họ thường gặp khó khăn trong việc tiếp cận các nguồn vốn chính thức, dẫn đến việc phải phụ thuộc vào các nguồn tín dụng không chính thức với lãi suất cao. Ngoài ra, rào cản về văn hóa và xã hội, đặc biệt là trong các cộng đồng dân tộc thiểu số, cũng là một vấn đề lớn. Định kiến xã hội về vai trò của phụ nữ trong kinh doanh có thể khiến họ cảm thấy không tự tin khi khởi nghiệp.

III. Chiến lược phát triển kinh doanh cho nữ doanh nhân

Để nâng cao động lực kinh doanh cho nữ chủ doanh nghiệp nhỏ tại Tây Bắc, cần thiết phải xây dựng các chiến lược phát triển cụ thể. Các chương trình đào tạo về kỹ năng quản lý, tiếp cận vốn, và tư vấn khởi nghiệp là rất quan trọng. Hơn nữa, việc tạo ra một môi trường kinh doanh thuận lợi, bao gồm cả việc giảm thiểu các thủ tục hành chính phức tạp, sẽ giúp nữ doanh nhân tự tin hơn trong việc khởi nghiệp và phát triển doanh nghiệp nhỏ. Chính phủ và các tổ chức xã hội cần có các chính sách hỗ trợ cụ thể nhằm khuyến khích phụ nữ tham gia vào lĩnh vực kinh doanh.

3.1. Hỗ trợ từ chính phủ và cộng đồng

Chính phủ cần xây dựng các chính sách hỗ trợ cụ thể cho nữ doanh nhân, bao gồm việc cung cấp các khoản vay ưu đãi, tổ chức các khóa đào tạo về quản lý và kinh doanh. Ngoài ra, việc kết nối nữ doanh nhân với các mạng lưới kinh doanh và cơ hội hợp tác cũng rất quan trọng. Cộng đồng cũng cần có sự hỗ trợ và khuyến khích từ gia đình và xã hội để giúp các nữ chủ doanh nghiệp vượt qua những rào cản tâm lý và xã hội. Như vậy, sự kết hợp giữa hỗ trợ từ chính phủ và cộng đồng sẽ tạo ra một môi trường thuận lợi cho phát triển kinh doanh của nữ giới.

21/12/2024

Trích đoạn nội dung tài liệu

Phần mở đầu Chương 2: Tổng quan các nghiên cứu trước đây Chương 3: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu Chương 4: Phương pháp nghiên cứu Chương 5: Kết quả nghiên cứu Chương 6: Thảo luận và khuyến nghị Kết luận luan an 11 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY 2. Tổng quan về động lực và động lực kinh doanh 2. Khái niệm Theo từ điển tiếng Việt động lực là điều gì đó khiến con người ta phải nỗ lực, sự cố gắng hết sức, sự thôi thúc làm cái gì đó. Các lý thuyết động lực khác nhau đều cho rằng động lực là cơ sở của hầu hết hành vi của con người (Weiner, 1985).

Thuật ngữ, "Động lực" có nguồn gốc từ tiếng Latinh "movere", với ý nghĩa ban đầu là "chuyển động". Điều này có nghĩa là chuyển từ hoàn cảnh hiện tại sang trạng thái tốt hơn. Trong tiếng Anh động cơ (“motive”) và động lực (“motivation”) thường được dịch là động cơ. Tuy nhiên, đây là hai khái niệm khác nhau, động cơ là lý do để làm điều gì đó, còn động lực liên quan đến sức mạnh, định hướng hành vi và các yếu tố khiến người ta hành xử theo những cách nhất định.

Thuật ngữ “động lực” có thể đề cập đến mục tiêu khác nhau của từng cá nhân, cách thức mà cá nhân lựa chọn mục tiêu và cách thức mà những người khác cố gắng thay đổi hành vi của họ. Trong tâm lý học, định nghĩa hiện phổ biến về động lực là quá trình bên trong gây ra các hoạt động cá nhân, duy trì các hoạt động này và thực hiện các hoạt động hướng tới một mục tiêu nhất định (Bandura, 1977). Động lực đề cập đến trạng thái tâm lý đặc biệt và sự sẵn lòng được tạo ra bởi nhu cầu cụ thể và hy vọng đáp ứng các nhu cầu khác nhau, đó cũng là cách tư duy tâm lý mà một người muốn làm điều gì đó. Động lực là một quá trình tâm lý nội tâm (bên trong), nó không thể được quan sát trực tiếp, nhưng nó có thể được suy luận qua các nhiệm vụ như lựa chọn công việc, mức độ nỗ lực, sự kiên trì và ngôn ngữ của cá nhân.

Động lực phải có mục tiêu, mục tiêu hướng dẫn hành vi cá nhân, và mang đến động lực bên trong. Động lực đòi hỏi các hoạt động khuyến khích cá nhân đạt được mục tiêu của họ (Bandura, 1977). Mặc dù động lực thuộc về một quá trình tâm lý bên trong, nhưng trong những năm gần đây, một số nhà tâm lý học đã chia động lực theo nguồn thành động lực từ môi trường bên ngoài và động lực của các yếu tố tâm lý bên trong. Người ta cho rằng động lực được thúc đẩy bởi môi trường bên ngoài chủ yếu là do môi trường bên ngoài kích thích nhu cầu của họ, còn động lực bên trong là do nhu cầu vốn có của cá nhân.

Động lực bên trong thường chỉ ra các nhu cầu bậc cao của lý thuyết phân cấp nhu cầu của Maslow, chẳng hạn như tự thực hiện, trong khi động lực bên ngoài thường chỉ ra các nhu cầu bậc thấp, như nhu cầu an toàn và nhu cầu thuộc về bản thân cá nhân (Vallerand và cộng sự, 1992). luan an 12 Ở lĩnh vực kinh tế và quản lý, động lực thúc đẩy làm chuyển biến, đổi mới hoàn cảnh tạo động lực phát triển kinh tế. Động lực có thể được thể hiện bằng nhiều cách khác nhau như Goleman (2001) đã xác định động lực là niềm đam mê làm việc vì những lý do vượt ra khỏi tiền bạc hoặc địa vị xã hội và khuynh hướng theo đuổi các mục tiêu với lòng nhiệt huyết và sự kiên trì. Để có hiệu quả kinh doanh, động lực là rất quan trọng bởi nó là một trạng thái hoặc tình trạng bên trong (đôi khi được mô tả như là một nhu cầu, khát vọng hoặc mong muốn) để kích hoạt hoặc tiếp sức cho hành vi và đưa ra định hướng cá nhân.

Dù trong lĩnh vực kinh tế hay tâm lý học, các định nghĩa được đưa ra đều dựa trên ba thành phần của động lực như Arnold và cộng sự (1998) đã nêu: thứ nhất, định hướng, nghĩa là những gì một cá nhân đang cố gắng làm; thứ hai, nỗ lực, nghĩa là một cá nhân đang cố gắng như thế nào; và thứ ba, sự kiên trì, nghĩa là một người tiếp tục cố gắng trong bao lâu. Rõ ràng động lực liên quan đến động lực thúc đẩy một cá nhân hành xử theo một cách nhất định để có được sự hài lòng hoặc thành công mà họ cần trong cuộc sống cũng như trong kinh doanh. Đó cũng là hành vi hướng đến mục tiêu. Động lực của một cá nhân bị thúc đẩy bởi các yếu tố tâm lý bên trong (động lực kéo) và môi trường bên ngoài (động lực đẩy).

Các loại động lực Động lực có thể được phân loại theo nhiều cách khác nhau tùy thuộc vào quan điểm, cách sắp xếp của các nhà nghiên cứu và các lý thuyết về động lực cá nhân, hành vi, mục tiêu cần đạt được, hiệu quả kinh doanh và môi trường. Tuy nhiên, trong số những phân loại này, được chấp nhận rộng rãi và phổ biến nhất bởi nguyên nhân hình thành và biểu hiện của động lực, cụ thể như sau: - Theo biểu hiện của động lực + Động lực ngầm (tiềm ẩn) là những xung động tự phát để hành động và được kích thích thông qua các ưu tiên vốn có đối với nhiệm vụ. + Động lực bộc lộ (hiện) được thể hiện thông qua các lựa chọn có chủ ý và thường xuyên bị kích thích vì các lý do bên ngoài. Những cá nhân có nhu cầu tiềm ẩn mạnh mẽ sẽ đạt được các mục tiêu đặt ra với tiêu chuẩn bên trong cao hơn, trong khi những người khác lại có xu hướng tuân thủ các quy tắc xã hội.

Hai động lực này thường hoạt động cùng nhau để xác định hành vi của cá nhân theo định hướng và niềm đam mê (Ryan and Deci, 2000). Thái độ đối với nhiệm vụ được đẩy mạnh khi đối mặt với một thách thức thông qua động lực ngầm, mục tiêu chính là làm cho việc thực hiện nhiệm vụ đạt hiệu quả cao nhất. Theo luan an 13 Rabideau (2005), một người có động lực ngầm mạnh mẽ sẽ cảm thấy vui khi đạt được mục đích một cách hiệu quả nhất. Sự nỗ lực và vượt qua thách thức bằng cách thực hiện nhiệm vụ để thỏa mãn cá nhân.

Tuy nhiên, động lực bộc lộ được xây dựng xung quanh hình ảnh của một con người. Loại động lực này hình thành hành vi của một người dựa trên quan điểm của họ và có thể ảnh hưởng đến sự lựa chọn và phản hồi của họ từ các tín hiệu bên ngoài. Tác nhân chính cho loại động lực này là nhận thức hoặc khả năng nhận thức. - Theo nguyên nhân của động lực + Động lực bên trong được định nghĩa là việc thực hiện một hoạt động nào đó vì sự hài lòng vốn có của nó hơn là cho một số kết quả riêng biệt.

Nói cách khác, động lực bên trong có thể phát sinh từ các yếu tố tự tạo ra trong hành vi của mọi người. Nó có thể ở dạng động lực bởi chính công việc khi các cá nhân cảm thấy rằng công việc của họ là quan trọng, thú vị và đầy thách thức và cung cấp cho họ mức độ tự chủ hợp lý (tự do hành động). Một người có động lực bên trong sẽ thay đổi hành động vì niềm vui khi thách thức đòi hỏi nhiều hơn là vì những sự thúc đẩy, áp lực hoặc phần thưởng bên ngoài đem lại (Ryan and Deci, 2000). Ryan and Deci cho biết thêm rằng động lực bên trong tồn tại trong mối quan hệ giữa các cá nhân và hoạt động.

Mọi người có động lực từ bản thân cho một số hoạt động chứ không phải từ người khác và không phải ai cũng có động lực từ bản thân cho một nhiệm vụ cụ thể. Như vậy, có thể nói rằng động lực bên trong rõ ràng là một phần quan trọng trong việc bắt đầu và điều hành DN. Các tài liệu về các yếu tố động lực bên trong đã bị ảnh hưởng chủ yếu bởi “lý thuyết tự quyết định”, được phát triển bởi Deci (1975). Lý thuyết này cho thấy con người bị thúc đẩy bởi nhu cầu phát triển để đạt được sự thành công, nhu cầu này thể hiện ở những dạng người có xu hướng phát triển vốn có.

Động lực bên trong giúp chúng ta giải thích lý do tại sao các cá nhân cố gắng hướng tới sự phát triển. Lý thuyết tự quyết định cho rằng con người hoạt động hướng tới sự phát triển. Sự phát triển này đạt được thông qua việc vượt qua những thách thức và tiếp nhận những trải nghiệm mới. Một số học giả xác định năng lực, sự liên kết và quyền tự chủ tạo ra động lực bên trong thông qua việc kết hợp giữa phát triển và ý thức bản thân (Ryan and Deci, 2000).

Động lực bên trong thúc đẩy phát triển và làm chủ những thách thức, nó trở thành một khía cạnh quan trọng của ĐLKD. Thúc đẩy sức mạnh bên trong cá nhân thực chất sẽ quyết định sự cam kết mà họ sử dụng để đạt được mục tiêu. Đó là sự cần thiết thúc đẩy các cá nhân hướng tới sự luan an 14 phát triển bản thân. Động lực bên trong dẫn đến sự điều tiết bên trong, từ đó cho phép các cá nhân hành động.

Động lực bên trong là chỉ số tốt nhất về việc một cá nhân sẽ hành động theo hướng phát triển so với việc có xu hướng duy trì sự thụ động và trì trệ Deci (1975). Các tài liệu về ĐLKD đã xác định được nhiều đặc điểm tính cách và các yếu tố bên trong thúc đẩy các doanh nhân hành động (Shane và cộng sự, 2003). + Động lực bên ngoài đề cập đến việc làm một cái gì đó bởi vì nó dẫn đến một kết quả riêng biệt. Do đó, động lực bên ngoài tương phản với động lực bên trong, nó đề cập đến việc thực hiện một hoạt động chỉ đơn giản là để tận hưởng thành quả của chính hoạt động đó, chứ không phải là giá trị phương tiện của nó (Ryan and Deci, 2000).

Động lực bên ngoài đã được nghiên cứu rộng rãi trong lĩnh vực tâm lý học. Động lực bên ngoài phát triển trong suốt cuộc đời doanh nhân và nó có thể dẫn đến nhu cầu tự làm chủ (Jayawarna và cộng sự, 2011). Nghiên cứu về động lực đã tách các yếu tố tạo nên hiện tượng này thành yếu tố bên trong và yếu tố bên ngoài.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Động lực kinh doanh của nữ chủ doanh nghiệp nhỏ và vừa tại tiểu vùng Tây Bắc" của tác giả Vũ Quang Hưng, dưới sự hướng dẫn của PGS. Vũ Minh Trai tại Đại Học Kinh Tế Quốc Dân, phân tích những động lực và thách thức mà các nữ chủ doanh nghiệp nhỏ và vừa tại khu vực Tây Bắc phải đối mặt. Nghiên cứu này không chỉ cung cấp cái nhìn sâu sắc về vai trò của phụ nữ trong lĩnh vực kinh doanh mà còn chỉ ra những yếu tố thúc đẩy sự phát triển và thành công của họ trong môi trường kinh doanh hiện tại. Độc giả sẽ tìm thấy những thông tin quý giá về cách thức mà các nữ doanh nhân có thể vượt qua khó khăn, từ đó tạo động lực cho bản thân và những người xung quanh.

Để mở rộng thêm kiến thức, bạn có thể tham khảo các bài viết liên quan như "Tạo động lực cho người lao động tại VNPT Thanh Hóa", nơi đề cập đến các phương pháp tạo động lực trong doanh nghiệp, và "Tạo động lực cho người lao động tại ngân hàng TMCP Sài Gòn Công Thương", nghiên cứu về động lực lao động trong lĩnh vực ngân hàng. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn đa chiều hơn về động lực trong kinh doanh và quản trị nhân sự.