CHƯƠNG 1: HIỆU QUẢ THẨM ĐỊNH DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ TRONG QUÁ TRÌNH CHO VAY TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 Hoạt động cho vay đối với Doanh nghiệp vừa và nhỏ tại NHTM 1.1 Khái niệm và Vai trò của DNVVN trong nền kinh tế Khái niệm Doanh nghiệp vừa và nhỏ Việc xây dựng các tiêu chí để phân định các DNVVN có ý nghĩa rất quan trọng làm cơ sở cho việc thống kê và phân tích tình hình hoạt động của các DNVVN, từ đó giúp nhà quản lý hoạch định chiến lược và đưa ra các giải pháp để hỗ trợ các DNVVN hoạt động có hiệu quả. Tuy nhiên trên thực tế, không có một tiêu chí chuẩn thống nhất giữa các quốc gia. Mỗi nước khác nhau, có trình độ phát triển và điều kiện kinh tế xã hội khác nhau do đó cũng có các tiêu chí để phân loại DNVVN khác nhau. Ở các nước Châu Âu : các doanh nghiệp có số lao động ít hơn 10 người được xem là siêu nhỏ, các doanh nghiệp có số lao động ít hơn 50 người được xem là nhỏ và doanh nghiệp có số lao động ít hơn 250 người được xem là doanh nghiệp cỡ vừa.
Ở Mỹ, các doanh nghiệp có số lao đông ít hơn 100 được xem là nhỏ, các doanh nghiệp có số lao động ít hơn 500 được xem là doanh nghiệp cỡ vừa. Trong khi đó ở khu vực Đông Nam Á, Indonexia phân loại DNVVN dựa trên ba tiêu thức là : số lượng lao động, tổng giá trị tài sản và doanh thu; Singapore dựa vào số lượng lao động và tổng giá trị tài sản. Theo tiêu chí của nhóm Ngân hàng thế giới, DNVVN có thể phân chia thành ba loại căn cứ vào số lượng lao động, doanh thu và tổng tài sản: DN siêu nhỏ nếu có số lao động dưới 10 người, tổng tài sản có giá trị không quá 100.000 USD và tổng doanh thu hàng năm không quá 100. Doanh nghiệp nhỏ nếu có từ 10 đến dưới 50 lao động, tổng tài sản có giá trị không quá 3 triệu USD và tổng doanh thu hàng năm không quá 3 triệu USD.
Doanh nghiệp cỡ vừa nếu có từ 50 đến 300 lao động, tổng tài sản có giá trị không quá 15 triệu USD và tổng doanh thu hàng năm không quá 15 triệu USD. 6 Tại Việt Nam theo điều 3, nghị định số 90/2001/NĐ-CP về việc trợ giúp DNVVN ngày 23/11/2001 do thủ tướng chính phủ ban hành, đã định nghĩa DNVVN như sau: Doanh nghiệp nhỏ và vừa là sơ sở sản xuất kinh doanh độc lập, có đăng ký kinh doanh theo pháp luật hiện hành, có vốn đăng ký không quá 10 tỷ đồng hoặc số lao động bình quân hàng năm không quá 300 người. Vai trò của DNVVN trong nền kinh tế - Thực tế đã chứng minh rằng nền kinh tế càng phát triển thì vai trò của các DNVVN càng trở nên quan trọng, người ta đã nhận thấy khu vực các DNVVN là nhân tố kinh tế cực kỳ quan trọng thúc đẩy và mở rộng cạnh tranh, đảm bảo ổn định kinh tế, phòng chống nguy cơ khủng hoảng. Đặc biệt, khi cuộc cách mạng khoa học công nghệ ngày càng phát triển đã tạo điều kiện cho các DNVVN nhiều cơ hội tập trung kỹ thuật, có khả năng sản xuất những sản phẩm không thua kém các doanh nghiệp lớn.
Các DNVVN là một trong những nguồn động lực mạnh mẽ tạo nên sự tăng trưởng liên tục của nền kinh tế. Vai trò ngày càng quan trọng của DNVVN đối với nền kinh tế được thể hiện trên các khía cạnh cơ bản sau đây: - DNVVN góp phần vào thúc đẩy phát triển kinh tế. Các DNVVN đã đóng góp hơn 50% vào tổng GDP của Việt Nam những năm qua góp phần không nhỏ vào tăng tưởng kinh tế, phát triển các ngành công nghiệp bổ trợ đối với các ngành công nghiệp mũi nhọn như chế tạo máy, điện tử…. góp phần cải thiện cán cân thanh toán nhờ việc tăng xuất khẩu hàng hóa; thay thế hàng hóa nhập khẩu bằng các hàng hóa sản xuất trong nước.
- DNVVN đã góp phần tạo việc làm cho 80% lao động ở cả nông thôn và thành thị, nâng cao đời sống nhân dân. Vai trò này có được là do sự tham gia nhiều vào hoạt động trong các lĩnh vực như dệt may, nông nghiệp và thủy sản … của các DNVVN. Các DNVVN chiếm ưu thế gần như tuyệt đối trong các ngành sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ truyền thống, hàng nông sản, thủy sản. Các DNVVN cũng có sự đóng góp đáng kể vào công cuộc xóa đói giảm nghèo, công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp - nông thôn, giảm sự chênh lệnh giữa nông thôn và thành thị.
7 - Các DNVVN cũng đóng góp một phần không nhỏ vốn đầu tư cho nền kinh tế. Việc tạo lập các doanh nghiệp có quy mô vừa và nhỏ không cần nhiều vốn, thời gian thu hồi nhanh, phân bố rộng khắp khu vực lãnh thổ, cho phép sử dụng mọi tiềm năng lao động, vốn. Đây là những ưu thế mà các doanh nghiệp lớn khó có được, Như vậy thực tế các tạo lập và tạo điều kiện phát triển cho các DNVVN là một phương thức có hiệu quả để khai thác mọi nguồn lao động, thu hút tiền nhà rỗi trong dân cư nhằm phục vụ tăng trưởng kinh tế đất nước. Khu vực DNVVN còn là nơi ươm mầm cho các tài năng kinh doanh, là nơi đào tạo rèn luyện các doanh nhân giỏi cho đất nước.
- Các DNVVN góp phần vào chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Các DNVVN hoạt động trong các lĩnh vực đa dạng, phong phú. Các doanh nghiệp này cũng có khả năng chuyển đổi hoạt động kinh doanh, sản phẩm sản xuất linh hoạt; cùng với hình thức tổ chức kinh doanh có sự kết hợp chuyên môn hóa với đa dạng hóa mềm dẻo, các DNVVN vó vai trò to lớn góp phần làm năng động nền kinh tế, tạo sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế nhanh chóng - DNVVN góp phần đa dạng hóa sản phẩm tiêu dùng nội địa và xuất khẩu. Với ưu thế đa dạng về ngành nghề, các DNVVN có lợi thế trong việc sản xuất và cung cấp nhiều loại sản phẩm, dịch vụ, đáp ứng nhu cầu trong nước đồng thời đẩy mạnh xuất khẩu.
Việt Nam với những lợi thế so sánh về các nguyên liệu từ nông – lâm – hải sản để sản xuất hàng hóa xuất khẩu, lợi thế về ngành nghề thủ công truyền thống đã tạo ra khả năng to lớn cho khu vực DNVVN tham gia sản xuất, gia công chế biến, đại lý khai thác các sản phẩm cho xuất khẩu. - Các DNVVN tăng thu Ngân sách cho Nhà nước. Các DNVVN từng bước khẳng định vị trí của mình, hàng năm đóng góp trên 30% ngân sách nhà nước, góp phần giảm sự mất cân đối cán cân ngân sách, phát huy vai trò quản lý vĩ mô của Nhà Nước.2 Hoạt động cho vay đối với DNVVN tại NHTM Cho vay DNVVN là việc Ngân hàng tài trợ cho DNVVN một lượng tiền cụ thể với cam kết DNVVN phải hoàn trả cả gốc và lãi vay trong một khoảng thời gian xác định. Cho vay DNVVN được phân chia dưới nhiều hình thức khác nhau: 8 Căn cứ theo hình thức bảo đảm thì có thể phân loại theo: Cho vay có đảm bảo: là hình thức cho vay dựa trên cơ sở các đảm bảo như thế chấp, cầm cố hoặc bảo lãnh của bên thứ ba.
Ngân hàng nắm giữ tài sản của người vay hoặc bên bảo lãnh như bất động sản, máy móc thiết bị, hàng hóa, cổ phiếu.để xử lý thu hồi nợ khi người vay không thực hiện được các nghĩa vụ đã được cam kết trong hợp đồng tín dụng. Hình thức này được áp dụng đối với những DNVVN không có uy tín cao với ngân hàng. Mặc dù là có tài sản đảm bảo nhưng hình thức cho vay này vẫn có độ rủi ro nhất định vì tài sản có thể bị mất giá hay người bảo lãnh không thực hiện nghĩa vụ của mình. Cho vay không có đảm bảo (tín chấp): là hình thức cho vay chỉ dựa vào uy tín của khách hàng mà không cần tài sản thế chấp.
Hình thức cho vay này thường chủ yếu dành cho đối tượng có uy tín, tình hình tài chính vững mạnh, lợi nhuận ổn định sản phẩm và dịch vụ đảm bảo chất lượng được thị trường đón nhận. Mặc dù không có tài sản đảm bảo nhưng đây là một loại tín dụng ít rủi ro cho ngân hàng vì khách hàng có uy tín rất lớn và khả năng trả nợ rất cao thì mới được cấp tín dụng mà không cần đảm bảo. Căn cứ theo phương pháp hoàn trả thì cho vay được phân theo: Cho vay hoàn trả một lần: Theo hình thức này thì vốn vay được cấp một lần và yêu cầu trả vốn một lần vào thời gian đáo hạn cuối cùng, lãi thường có thể trả vào những thời điểm khác nhau hoặc trả khi đáo hạn. Các khoản vay hoàn trả định kỳ: Theo phương thức này, sau một thời gian nhất định Khách hàng phải hoàn trả một phần vốn vay cho ngân hàng, vốn vay và lãi có thể được trả theo phương thức: gốc trả đều, lãi trả theo số dư, gốc trả theo cấp số cộng, cấp số nhân lãi trả theo số dư.
Việc lựa chọn phương thức hoàn trả vốn vay phụ thuộc vào sự thỏa thuận của Ngân hàng với khách hàng, điều này cũng phụ thuộc vào đặc điểm và tình hình hoạt động của khách hàng, Ngân hàng sẽ lựa chọn phương thức hoàn trả tối ưu nhất có lợi cho Ngân hàng. 9 Căn cứ theo thời hạn thì có thể phân loại cho vay theo: Cho vay ngắn hạn: là hình thức cho vay có thời hạn dưới một năm. Hình thức cho vay này thường được dùng để bù đăp sự thiếu hụt nhu cầu vốn lưu động của các doanh nghiệp. Với loại cho vay này, ít có rủi ro cho ngân hàng vì trong thời gian ngắn ít có biến động xảy ra và nếu có xảy ra thì ngân hàng có thể dự tính được.
Cho vay trung hạn: hình thức cho vay có thời hạn từ 1 đến 5 năm. Hình thức cho vay này được sử dụng để tài trợ cho các nhu cầu đổi mới trang thiết bị công nghệ, mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh, đầu tư xây dựng các dự án có quy mô nhỏ. Mức độ rủi ro không cao vì ngân hàng có khả năng dự đoán được những biến động có thể xảy ra.