Tổng quan nghiên cứu

Khu vực doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN) giữ vai trò là xương sống của nền kinh tế Việt Nam khi chiếm hơn 97% tổng số doanh nghiệp ngoài quốc doanh, 75% doanh nghiệp nhà nước và đóng góp khoảng 24% GDP cùng 31% giá trị sản xuất công nghiệp. Tuy nhiên, rào cản lớn nhất kìm hãm sự phát triển của khối doanh nghiệp này chính là điểm nghẽn về nguồn vốn tín dụng. Thực tế giai đoạn sau Đổi mới ghi nhận nghịch lý sâu sắc: các ngân hàng thương mại (NHTM) luôn trong tình trạng dư thừa thanh khoản nhưng không thể đẩy mạnh giải ngân, trong khi hơn 80% DNVVN thiếu vốn trầm trọng để tái sản xuất mở rộng và đổi mới công nghệ nhưng không thể tiếp cận các khoản vay chính thức.

Nguyên nhân căn bản bắt nguồn từ những bất cập và khiếm khuyết trong cơ chế cho vay hiện hành của hệ thống NHTM, vốn còn mang nặng tính áp đặt hành chính, quy trình thẩm định rườm rà và các điều kiện thế chấp tài sản quá khắt khe. Luận văn thạc sĩ kinh tế chuyên ngành Kinh tế chính trị với đề tài "Đổi mới cơ chế cho vay của các ngân hàng thương mại đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam" được tác giả Nguyễn Hùng Sơn thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Nguyễn An Ninh tại Trường Đại học Kinh tế Quốc dân. Nghiên cứu tập trung giải quyết bài toán cốt lõi: xác lập luận cứ khoa học và thực tiễn nhằm đổi mới toàn diện cơ chế cấp tín dụng của NHTM, tạo hành lang thông thoáng cho DNVVN tiếp cận nguồn vốn.

Phạm vi nghiên cứu bao quát toàn bộ hoạt động cấp tín dụng của hệ thống NHTM Việt Nam đối với DNVVN từ năm 1986 đến năm 2003, đồng thời hoạch định phương hướng đổi mới mang tính chiến lược đến năm 2010. Ý nghĩa nghiên cứu thể hiện ở việc cung cấp cơ sở lý luận và giải pháp thực tiễn giúp cân bằng lợi ích giữa tổ chức tín dụng và bên vay, kỳ vọng gia tăng tỷ lệ tiếp cận vốn của DNVVN từ mức ước tính dưới 35% lên trên 60%, góp phần giảm thiểu rủi ro nợ quá hạn và thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế quốc gia theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu xây dựng trên nền tảng lý luận kinh tế chính trị Mác - Lênin về quy luật lưu thông tiền tệ và sự vận động của tư bản cho vay theo công thức T - T' (tiền sinh ra nhiều tiền hơn). Trong quan hệ kinh tế thị trường, cho vay là một phạm trù kinh tế phản ánh mối quan hệ lợi ích vật chất giữa chủ thể cung ứng vốn (NHTM) và chủ thể có nhu cầu vốn (khách hàng), dựa trên nguyên tắc hoàn trả đầy đủ cả gốc lẫn lãi sau một khoảng thời gian xác định.

Hệ thống lý thuyết được cụ thể hóa qua 5 khái niệm chuyên ngành cốt lõi:

  • Tín dụng ngân hàng: Quan hệ chuyển nhượng quyền sử dụng vốn tạm thời nhàn rỗi trong xã hội từ người cho vay sang người đi vay với điều kiện có hoàn trả và sinh lời.
  • Cơ chế cho vay của NHTM: Phương thức tổ chức và quản lý toàn bộ quy trình cấp tín dụng, bao gồm hệ thống chế độ chính sách, mô hình cung ứng vốn và phương thức quản trị rủi ro theo các quy định của Nhà nước.
  • Doanh nghiệp vừa và nhỏ: Theo Nghị định 90/2001/NĐ-CP của Chính phủ, đây là các cơ sở sản xuất kinh doanh độc lập có vốn đăng ký không quá 10 tỷ đồng hoặc số lao động bình quân hàng năm không quá 300 người.
  • Bảo lãnh tín dụng: Cam kết bằng văn bản của bên bảo lãnh về việc thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho bên được bảo lãnh khi đến hạn mà không thực hiện được nghĩa vụ trả nợ.
  • Chiết khấu giấy tờ có giá: Nghiệp vụ cấp tín dụng thông qua việc tổ chức tín dụng mua lại các thương phiếu, kỳ phiếu, trái phiếu chưa đến hạn thanh toán từ khách hàng.

Khung lý thuyết của luận văn kết hợp nghiên cứu bài học kinh nghiệm quốc tế từ 4 quốc gia và vùng lãnh thổ:

  • CHLB Đức: Hệ thống ngân hàng áp dụng lãi suất ưu đãi cho DNVVN và thành lập tổ chức bảo lãnh tín dụng bồi thường tối đa 80% vốn vay khi rủi ro phát sinh, trong đó Chính phủ tái bảo lãnh tới 70%.
  • Nhật Bản: Phân vùng cấp tín dụng thông qua 3 định chế chuyên biệt gồm Ngân hàng hợp tác xã công thương, Tổ chức tài chính DNVVN và Tổ chức tài chính nhân dân, cung ứng khoảng 70% tổng vốn hoạt động của DNVVN.
  • Hàn Quốc: Thành lập Quỹ bảo đảm tín dụng với hạn mức bảo lãnh tối đa 30 tỷ Won và quy định tỷ lệ trích tín dụng bắt buộc cho DNVVN đạt 45% đối với NHTM trung ương và 80% đối với NHTM địa phương.
  • Đài Loan: Phân bổ quỹ phát triển DNVVN 12 tỷ Đài tệ (tương đương 347,8 triệu USD) mỗi năm, kết hợp 82 ngân hàng cung ứng 5.186,5 tỷ Đài tệ (khoảng 150 tỷ USD), chiếm 56% tổng lượng vốn cấp cho doanh nghiệp toàn nền kinh tế.

Phương pháp nghiên cứu

Luận văn vận dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, kết hợp phương pháp trừu tượng hóa khoa học, phương pháp phân tích logic gắn liền với lịch sử, phương pháp thống kê mô tả, so sánh định lượng và phương pháp chuyên gia.

Nguồn dữ liệu thứ cấp được thu thập toàn diện từ Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, báo cáo thường niên của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank), số liệu của Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), cùng hệ thống văn bản pháp lý gồm Luật Các tổ chức tín dụng năm 1997, Quyết định 1627/2001/QĐ-NHNN, Nghị định 178/1999/NĐ-CP và Nghị định 85/2002/NĐ-CP.

Cỡ mẫu nghiên cứu bao gồm số liệu tổng hợp từ 4 ngân hàng thương mại quốc doanh lớn, hơn 50 ngân hàng thương mại cổ phần và tập hợp dữ liệu hoạt động của hơn 200 bộ hồ sơ tín dụng doanh nghiệp đại diện cho các ngành công nghiệp, thương mại, dịch vụ tại các trung tâm kinh tế trọng điểm. Phương pháp chọn mẫu có chủ đích kết hợp phân tầng theo quy mô vốn và loại hình sở hữu được áp dụng để bảo đảm tính đại diện cao. Việc lựa chọn phương pháp phân tích đối chiếu quy định pháp luật với dữ liệu dư nợ thực tế giúp chỉ rõ những mâu thuẫn nội tại giữa cơ chế hành chính và đòi hỏi khách quan của nền kinh tế thị trường trong suốt tiến trình nghiên cứu từ năm 1986 đến năm 2003.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Quá trình phân tích thực trạng cơ chế cho vay của các NHTM đối với DNVVN tại Việt Nam giai đoạn 1986 - 2003 chỉ ra 4 phát hiện quan trọng:

Thứ nhất, tồn tại mâu thuẫn gay gắt giữa sự phụ thuộc lớn vào vốn vay của DNVVN và rào cản tài sản thế chấp. Dữ liệu thực tế cho thấy vốn tín dụng ngân hàng chiếm tới 80% đến 90% tổng nhu cầu vốn hoạt động của DNVVN tại Việt Nam. Tuy nhiên, có tới hơn 75% DNVVN không thể tiếp cận được nguồn vốn này do thiếu tài sản bảo đảm hợp chuẩn theo quy định pháp lý, bởi phần lớn mặt bằng sản xuất và nhà xưởng của khối doanh nghiệp tư nhân đều là tài sản thuê mướn hoặc chưa hoàn tất thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Thứ hai, khung khổ pháp lý điều chỉnh hoạt động tín dụng còn thiếu tính đồng bộ và chứa đựng nhiều điểm xung đột. Điển hình là sự bất nhất giữa Luật Các tổ chức tín dụng năm 1997 và Nghị định 178/1999/NĐ-CP liên quan đến việc xử lý tài sản cầm cố là cổ phiếu của chính tổ chức tín dụng cho vay. Thêm vào đó, Nghị định 165/1999/NĐ-CP về giao dịch bảo đảm lấy căn cứ từ Bộ luật Dân sự, trong khi Nghị định 178/1999/NĐ-CP lại dựa trên Luật Các tổ chức tín dụng, tạo ra sự chồng chéo khiến các NHTM gặp lúng túng khi xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi các khoản nợ quá hạn lên tới hàng ngàn tỷ đồng.

Thứ ba, sự thiếu vắng một cơ chế cho vay chuyên biệt dành riêng cho khu vực DNVVN. Toàn bộ hệ thống ngân hàng thời điểm này vẫn áp dụng chung một quy trình xét duyệt tín dụng cồng kềnh cho cả doanh nghiệp nhà nước quy mô lớn và DNVVN. Thủ tục thẩm định một hồ sơ vay vốn trung - dài hạn thường kéo dài từ 30 đến 45 ngày làm việc. Sự chậm trễ này làm triệt tiêu tính linh hoạt của DNVVN, khiến hơn 40% doanh nghiệp bỏ lỡ cơ hội kinh doanh ngắn hạn và buộc phải tìm đến thị trường tín dụng phi chính thức với mức lãi suất vay cao gấp 2 đến 3 lần lãi suất ngân hàng.

Thứ tư, các công cụ tín dụng hiện đại như bảo lãnh ngân hàng, cho thuê tài chính và chiết khấu giấy tờ có giá chưa phát huy được hiệu quả hỗ trợ. Quy chế bảo lãnh theo Quyết định 283/2000/QĐ-NHNN mở rộng phạm vi áp dụng nhưng lại thiếu cơ chế phòng ngừa rủi ro liên đới, dẫn đến tâm lý e ngại từ phía các NHTM trong việc phát hành cam kết bảo lãnh thanh toán cho các hợp đồng mua bán máy móc thiết bị trả chậm của DNVVN.

Thảo luận kết quả

Các phát hiện nghiên cứu phản ánh chân thực giai đoạn chuyển đổi quá độ của nền kinh tế Việt Nam. Bất cập trong cơ chế tín dụng không đơn thuần là lỗi kỹ thuật nghiệp vụ của NHTM, mà là hệ quả từ sự chưa đồng bộ giữa chính sách quản lý nhà nước và thực tiễn vận động của thị trường. Cán bộ tín dụng chịu áp lực nặng nề từ nỗi lo "hình sự hóa quan hệ kinh tế", dẫn đến xu hướng co cụm, chỉ ưu tiên cho vay khi có đầy đủ 100% bất động sản bảo đảm, bất chấp tính khả thi cao của phương án sản xuất kinh doanh.

Dữ liệu thực trạng được hệ thống hóa rõ nét qua các bảng đối chiếu ma trận chính sách và biểu đồ so sánh cơ cấu: trong khi DNVVN đóng góp tới 79,2% tổng số việc làm phi nông nghiệp và chiếm 97% tổng số doanh nghiệp, thì tỷ trọng dư nợ tín dụng trung - dài hạn dành cho khối này chỉ chiếm tỷ lệ khiêm tốn ước tính dưới 30% tổng dư nợ toàn hệ thống. Đối chiếu với các nghiên cứu tại Đức và Đài Loan, nơi tỷ lệ cấp vốn của hệ thống ngân hàng cho DNVVN luôn duy trì vững chắc ở mức 56% đến 70%, sự thiếu hụt của các quỹ bảo lãnh tín dụng do Nhà nước bảo trợ chính là mắt xích yếu nhất trong chuỗi cung ứng vốn tại Việt Nam.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm tháo gỡ triệt để các rào cản tín dụng và thúc đẩy DNVVN phát triển bền vững đến năm 2010, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp hành động cụ thể:

Thứ nhất, hoàn thiện hành lang pháp lý và ban hành Quy chế cho vay chuyên biệt dành riêng cho DNVVN. Ngân hàng Nhà nước cần chủ trì phối hợp với Bộ Tư pháp và Bộ Tài chính rà soát, đồng bộ hóa các quy định giữa Luật Các tổ chức tín dụng và Bộ luật Dân sự trong giai đoạn 2004 - 2006. Cần xây dựng cơ chế thẩm định tín dụng linh hoạt dựa trên dòng tiền và hiệu quả dự án kinh doanh thực tế, thay vì đặt nặng điều kiện tài sản bảo đảm bất động sản, nâng tỷ lệ cho vay tín chấp hoặc cho vay có bảo đảm một phần lên mức 20% - 30% đối với các DNVVN có lịch sử tín dụng minh bạch.

Thứ hai, thiết lập và mở rộng mạng lưới Quỹ bảo lãnh tín dụng DNVVN trên quy mô toàn quốc. Chính phủ cần phân bổ nguồn vốn ngân sách mồi ban đầu ước tính từ 500 đến 1.000 tỷ đồng, kết hợp đóng góp tự nguyện từ các NHTM và hiệp hội ngành nghề để hình thành quỹ bảo lãnh hoạt động độc lập. Quỹ chịu trách nhiệm bảo lãnh tối đa 70% - 80% giá trị khoản vay cho các doanh nghiệp có dự án khả thi nhưng thiếu tài sản thế chấp, áp dụng mức phí bảo lãnh hợp lý khoảng 1%/năm trên số dư nợ bảo lãnh.

Thứ ba, đa dạng hóa các phương thức tài trợ vốn và mở rộng mạng lưới giao dịch ngân hàng. Các NHTM cần đẩy mạnh thành lập công ty cho thuê tài chính (leasing) nhằm hỗ trợ DNVVN đổi mới trang thiết bị công nghệ mà không cần thế chấp đất đai; triển khai nghiệp vụ chiết khấu thương phiếu và bao thanh toán (factoring). Đồng thời, mở rộng các phòng giao dịch tại cấp huyện, thị xã nhằm rút ngắn khoảng cách tiếp cận giữa ngân hàng và các cụm DNVVN làng nghề truyền thống.

Thứ tư, nâng cấp hệ thống thông tin tín dụng và hiện đại hóa quy trình thẩm định nội bộ. Các NHTM cần đầu tư hạ tầng công nghệ thông tin, kết nối dữ liệu thường xuyên với Trung tâm Thông tin Tín dụng (CIC) của Ngân hàng Nhà nước; chuẩn hóa quy trình xét duyệt để rút ngắn thời gian xử lý hồ sơ vay vốn lưu động xuống dưới 7 ngày làm việc. Đồng thời, tổ chức đào tạo nâng cao năng lực phân tích tài chính doanh nghiệp phi chính thức cho 100% đội ngũ cán bộ tín dụng nhằm giảm thiểu rủi ro nợ xấu dưới ngưỡng an toàn 3%.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và hàm lượng khoa học của luận văn mang lại giá trị ứng dụng thiết thực cho 4 nhóm đối tượng trọng tâm:

  • Cơ quan quản lý nhà nước và nhà hoạch định chính sách: Cán bộ thuộc Ngân hàng Nhà nước, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính có thể sử dụng các luận cứ trong tài liệu làm cơ sở tham mưu hoàn thiện khung pháp lý về bảo đảm tiền vay, thiết kế quy chế hoạt động cho các quỹ bảo lãnh tín dụng quốc gia và địa phương.
  • Ban lãnh đạo và chuyên viên tín dụng tại các NHTM: Các nhà quản trị ngân hàng có thể tham khảo để cải tiến quy trình cấp tín dụng, phân cấp ủy quyền phán quyết cho vay hợp lý và xây dựng các gói sản phẩm tín dụng đặc thù phục vụ phân khúc khách hàng DNVVN.
  • Chủ doanh nghiệp và giám đốc tài chính DNVVN: Giúp lãnh đạo doanh nghiệp nắm bắt các tiêu chuẩn thẩm định khắt khe của hệ thống ngân hàng, từ đó chủ động chuẩn hóa hệ thống sổ sách kế toán, nâng cao tính minh bạch tài chính để gia tăng khả năng duyệt vay thành công.
  • Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học: Là tài liệu tham khảo có giá trị học thuật sâu sắc về chuyên ngành Kinh tế chính trị và Tài chính - Ngân hàng, cung cấp bức tranh toàn cảnh về sự chuyển dịch cơ chế tín dụng Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế.

Câu hỏi thường gặp

Câu hỏi 1: Vì sao DNVVN tại Việt Nam gặp nhiều khó khăn khi tiếp cận vốn vay ngân hàng? Trả lời: Nguyên nhân chính do hơn 75% DNVVN thiếu tài sản thế chấp đạt chuẩn pháp lý như nhà xưởng, quyền sử dụng đất. Mặt khác, hệ thống kế toán nội bộ của DNVVN còn thiếu minh bạch, chưa qua kiểm toán độc lập, trong khi quy trình thẩm định của NHTM vẫn mang tính khuôn mẫu, đòi hỏi thủ tục hồ sơ phức tạp kéo dài 30 đến 45 ngày.

Câu hỏi 2: Điểm đột phá lớn nhất trong cơ chế cho vay theo Quyết định 1627/2001/QĐ-NHNN là gì? Trả lời: Quyết định 1627 đã xóa bỏ triệt để tính chất bao cấp hành chính, trao quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm hoàn toàn cho các NHTM trong việc ra quyết định cho vay. Quy chế cũng mở rộng đối tượng vay vốn cho cả pháp nhân, cá nhân nước ngoài hoạt động hợp pháp tại Việt Nam theo đúng thông lệ quốc tế.

Câu hỏi 3: Bài học quốc tế nào có tính khả thi cao nhất để áp dụng cho hệ sinh thái tín dụng Việt Nam? Trả lời: Mô hình Quỹ bảo lãnh tín dụng của Đài Loan và Hàn Quốc với cơ chế bảo lãnh từ 70% đến 80% giá trị khoản vay kết hợp mức phí bảo lãnh 1% là giải pháp tối ưu nhất. Cơ chế này giúp san sẻ rủi ro giữa Nhà nước và NHTM, gỡ bỏ nút thắt thiếu tài sản thế chấp của DNVVN.

Câu hỏi 4: Nghiệp vụ cho thuê tài chính (Leasing) hỗ trợ DNVVN giải quyết bài toán công nghệ ra sao? Trả lời: Cho thuê tài chính cho phép DNVVN sử dụng ngay máy móc, dây chuyền hiện đại do công ty tài chính mua và cho thuê lại mà không cần tài sản bất động sản thế chấp. Doanh nghiệp chỉ cần thanh toán tiền thuê định kỳ, giảm áp lực vốn đầu tư ban đầu ước tính từ 70% đến 80%.

Câu hỏi 5: Luận văn đề xuất giải pháp cốt lõi nào nhằm hài hòa lợi ích giữa NHTM và DNVVN? Trả lời: Giải pháp trọng tâm là chuyển dịch phương thức thẩm định tín dụng từ dựa vào tài sản thế chấp sang thẩm định tính khả thi của dòng tiền dự án. Đi kèm với đó là mạng lưới quỹ bảo lãnh tín dụng và đa dạng hóa sản phẩm cấp vốn nhằm bảo toàn vốn cho ngân hàng và kịp thời cung ứng vốn cho doanh nghiệp.

Kết luận

  • Luận văn hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận kinh tế chính trị về tín dụng ngân hàng và khẳng định tính cấp thiết khách quan của việc thiết lập cơ chế cho vay chuyên biệt dành riêng cho DNVVN.
  • Phân tích sâu sắc bài học kinh nghiệm quốc tế từ CHLB Đức, Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan và rút ra 4 nguyên tắc cốt lõi về bảo lãnh tín dụng cùng vai trò điều tiết vĩ mô của Nhà nước.
  • Đánh giá thực trạng tín dụng giai đoạn 1986 - 2003, chỉ rõ nghịch lý DNVVN phụ thuộc 80% - 90% vào vốn vay nhưng bị nghẽn dòng tiền do rào cản thủ tục và quy định thế chấp bất động sản.
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp mang tính đột phá gồm: chuẩn hóa hành lang pháp lý, thành lập Quỹ bảo lãnh tín dụng quy mô 500 - 1.000 tỷ đồng, đa dạng hóa sản phẩm cho thuê tài chính và hiện đại hóa quy trình thẩm định dòng tiền.
  • Lộ trình triển khai khuyến nghị chia làm 2 giai đoạn: hoàn thiện thể chế giai đoạn 2004 - 2006 và mở rộng quy mô quỹ bảo lãnh cùng dịch vụ ngân hàng hiện đại đến năm 2010.

Để tháo gỡ dứt điểm điểm nghẽn nguồn vốn cho DNVVN, các nhà hoạch định chính sách và lãnh đạo các tổ chức tín dụng cần nhanh chóng nghiên cứu, chuyển hóa các đề xuất của luận văn thành các chương trình hành động thực tiễn, tạo xung lực mạnh mẽ cho cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam phát triển bền vững.