mở đầu và kết luận, luận văn đƣợc trình bày trong 3 chƣơng: Chƣơng 1: Khung lý thuyết thúc đẩy xuất khẩu của doanh nghiệp. Chƣơng 2: Thực trạng thúc đẩy xuất khẩu hàng hoá của DNNVV trên địa bàn thành phố Hà Nội giai đoạn 2011 - 2015 Chƣơng 3:“Định hƣớng và giải pháp thúc đẩy xuất khẩu hàng hoá của DNNVV trên địa bàn thành phố Hà Nội đến năm 2020.” 3 “CHƢƠNG 1: LÝ THUYẾT THÚC ĐẨY XUẤT KHẨU” 1.1 Cơ sở lý thuyết thúc đẩy xuất khẩu 1.1 Lý thuyết lợi thế tuyệt đối “A. Smith (1976) là ngƣời đầu tiên đƣa ra lý thuyết lợi thế tuyệt đối trọng thƣơng. Mô hình kinh tế cổ điển, quan niệm đất đai là nguồn lực giới hạn của tăng trƣởng.
Khi nhu cầu lƣơng thực tăng nhƣng lại phải tiếp tục canh tác trên đất đai càng ngày cằn cỗi, không đảm bảo đƣợc lợi nhuận thì các nhà đầu tƣ vốn sẽ ngừng sản xuất. Các nhà kinh tế cổ điển gọi đây là trạng thái bế tắc của tăng trƣởng. Smith cho rằng có thể giải quyết bế tắc bằng cách nhập khẩu lƣơng thực từ nƣớc ngoài với giá rẻ hơn. Việc nhập khẩu này sẽ mang lại lợi ích cho cả hai nƣớc và lợi ích này đƣợc gọi là lợi thế tuyệt đối.
Do đó, có thể nói lợi thế tuyệt đối là lợi thế xuất hiện trong điều kiện so sánh chi phí sản xuất để sản xuất ra cùng một mặt hàng, khi một nƣớc sản xuất sản phẩm có chi phí thấp hơn có thế xuất khẩu các mặt hàng đó từ nƣớc khác có chi phí sản xuất cao hơn. Quan điểm của A.Smith đề cao vai trò cá nhân và doanh nghiệp, ủng hộ nền thƣơng mại tự do, không có sự can thiệt của chính phủ. Tƣ tƣởng chính của lý thuyết là sử dụng thƣơng mại quốc tế thúc đẩy kinh tế phát triển. Các nƣớc nên chuyên môn hoá sản xuất và xuất khẩu các mặt hàng có lợi thế tuyệt đối và nhập khẩu các mặt hàng không có lợi thế tuyệt đối nhằm thu lại lợi ích.
Lý thuyết lợi thế tuyệt đối vẫn có ý nghĩa quan trọng trong thƣơng mại quốc tế hiện đại mặc dù nó chỉ giải thích đƣợc một phần rất nhỏ của thƣơng mại quốc tế. Nó cho thấy tính ƣu việt của chuyên môn hoá và ý nghĩa của thƣơng mại quốc tế là đem lại lợi ích chứ không chỉ đơn thuần là lƣu thông hàng hoá.” Tuy nhiên lý thuyết lợi thế tuyệt đối bộc lộ những hạn chế nhật định nhƣ: - Không giải thích đƣợc trƣờng hợp một nƣớc có lợi thế tuyệt đối về tất cả các mặt hàng và một nƣớc không có bất cứlợi thế tuyệt đối nào nhƣng vẫn có thƣơng mại. - Chƣa tính đến đầy đủ nhu cầu và giá trị của hàng hoá mà chỉ dựa vào sự trao đổi bình đẳng. 4 Lý thuyết này xây dựng trên các giả thiết là thế giới chỉ có: - Có 2 quốc gia và 2 mặt hàng hóa; - Hai quốc gia này đều sử dụng công nghệ sản xuất giống nhau; tài nguyên thiết yếu ở mỗi quốc gia chỉ có lao động.
- Chi phí sản xuất là lao động và không có rào cản thƣơng mại 1.2 Lý thuyết lợi thế so sánh Tƣ“tƣởng chính của lý thuyết lợi thế so sánh do David Ricardo (1817) đƣa ra cho rằng đối với các quốc gia dù có lợi thế tuyệt đối hay không có lợi thế tuyệt đối ở tất cả các mặt hàng sẽ có lợi hơn khi chuyên môn hoá sản xuất mặt hàng tốt ít tài nguyên nhất. Mọi quốc gia có thể và rất có lợi khi tham gia thƣơng mại quốc tế khi có lợi thế so sánh nhờ chuyên môn hoá các loại mặt hàng có lợi thế so sánh để xuất khẩu đồng thời nhập khẩu những mặt hàng không có lợi thế so sánh.” Lý“thuyết lợi thế so sánh giải thích đƣợc dạng thƣơng mại đối với các quốc gia không có lợi thế tuyệt đối nhƣng vẫn có thƣơng mại với các quốc gia khác mà lý thuyết lợi thế tuyệt đối của Adam Smith chƣa giải thích đƣợc.” Hạn chế của lý thuyết lợi thế so sánh thể hiện: - Chƣa tính đến cơ cấu nhu cầu tiêu dùng mỗi nƣớc - Chỉ tính toán dựa trên cơ sở hàng đổi hàng - Trong chi phí sản xuất mới chỉ tính đến một yếu tố duy nhất là lao động mà chƣa tính đến các yếu tố khác nhƣ vốn, kỹ thuật, đất đai và trình độ của ngƣời lao động. Lý thuyết này đƣợc xây dựng dựa trên 6 giả thiết: - Chỉ có 2 quốc gia và 2 loại mặt hàng - Mậu dịch tự do – thị trƣờng cạnh tranh hoàn hảo - Lao động di chuyển tự do trong một quóc gia - Không tính chi phí vận chuyển hàng hoá - Kỹ thuật sản xuất của 2 quốc gia là giống nhau - Yếu tố đầu vào của 2 loại mặt hàng cũng giống nhau 5 1.3 Học thuyết H-O Học thuyết Hecksher-Ohlin là mô hình toán cân bằng tổng thể trong thƣơng mại quốc tế đƣợc dùng để dự báo quốc gia nào sẽ sản xuất mặt hàng nào dựa trên các yếu tố sản xuất có sẵn của quốc gia. Lý thuyết tiếp cận dựa vào lý luận về lý thuyết lợi thế so sánh của David Ricardo do Eli Heckscher và Bertil Ohlin xây dựng và sau này nó đƣợc tiếp tục phát triển.
Nội dung chủ yếu của lý thuyết này là: - Các yếu tố sản xuất giữa các quốc gia khác nhau, chuyên môn hoá những ngành sử dụng yếu tố sản xuất chi phí rẻ hơn. - Cơ sở thƣơng mại quốc tế là lợi thế so sánh - Mọi quốc gia sẽ chuyên môn hoá sản xuất để xuất khẩu mặt hàng thâm dụng yếu tố mà quốc gia đó dƣ thừa tƣơng đối đồng thời nhập khẩu trở lại sản phẩm thâm dụng yếu tố mà quốc gia đó khan hiếm tƣơng đối - TA WA RCA = ÷ TX W RCA – Hệ số biểu thị lợi thế so sánh TA – Kim ngạch xuất khẩu mặt hàng A của nƣớc X trong 1 năm TX – Tổng kim ngạch xuất khẩu của nƣớc X trong 1 năm WA – Tổng kim ngạch xuất khẩu mặt hàng A của thế giới trong 1 năm W – Tổng kim ngạch xuất khẩu của thế giới trong 1 năm Nếu RCA ≤ 1: Mặt hàng không có lợi thế so sánh Nếu 2,5 < RCA < 4,25: Mặt hàng có lợi thế so sánh cao Nếu RCA 4,25: mặt hàng có lợi thế so sánh rất cao 6 Ƣu điểm của lý thuyết này là giải thích đƣợc nguồn gốc hình thành của lợi thế so sánh nhƣng hạn chế chủ yếu là chƣa giải thích đƣợc mọi hiện tƣợng thƣơng mại quốc tế, đặc biệt khi có sự đảo ngƣợc nhu cầu, cạnh tranh không hoàn hảo, chi phí vận tải và bảo hiểm lớn, và tình trạng trao đổi 1 mặt hàng đối với nƣớc có lợi thế so sánh và nƣớc không có lợi thế so sánh 1.4 Lý thuyết lợi thế cạnh tranh Michael Porter đã xây dựng lý thuyết“dựa trên nghiên cứu tổng cộng 100 ngành tại 10 quốc gia khác nhau, với 4 thuộc tính lớn của một quốc gia hình thành nên môi trƣờng cạnh tranh cho các công ty tại nƣớc đó và những thuộc tính này thúc đẩy hoặc ngăn cản sự tạo ra lợi thế cạnh tranh của quốc gia đó cụ thể nhƣ”sau: - “Điều kiện về các yếu tố sản xuất – Vị thế của một nƣớc về các yếu tố sản xuất ví dụ nhƣ nguồn lao động có kỹ năng hoặc cơ sở hạ tầng cần thiết để cạnh tranh trong một ngành cụ thể. ” - “Các điều kiện về cầu – Nhu cầu trong nƣớc đối với hàng hoá dịch vụ của một ngành.” - “Các ngành hỗ trợ và liên quan – Sự hiện diện hoặc không có sẵn của các ngành hỗ trợ và liên quan có năng lực cạnh tranh quốc tế. ” - “Chiến lƣợc, cơ cấu và mực độ cạnh tranh nội bộ ngành – Các điều kiện quản lý các công ty đƣợc tạo ra, tổ chức, phƣơng pháp quản trị và bản chất đối thủ cạnh tranh trong nƣớc.
” 4”thuộc tính này nhƣ 4 yếu tố cấu tạo nên mô hình kim cƣơng, và M. Porter lập luận rằng các công ty có khả năng thành công cao nhất trong những ngành hoặc phân ngành trong mà mô hình kim cƣơng đƣợc thuận lợi nhất. Và trong mô hình kim cƣơng thì 4 yếu tố này có tƣơng tác và củng cố lẫn nhau, tác động của một yếu tố sẽ phụ thuộc vào các yếu tố khác và ngƣợclại.” 7 Nguồn: The Competitive Advantage of Nation “Hình 1.1: Mô hình kim cƣơng” “Ngoài ra,M.Porter cho rằng có 2 yếu tố nữa có thể chi phối tới mô hình kim cƣơng của quốc gia đó là cơ hội và chính phủ. Những cơ hội xảy đến, ví dụ những phát minh sáng tạo lớn, có thể tái cấu trúc lại ngành và mang lại cơ hội cho các công ty của một nƣớc vƣợt lên những công ty khác.
Đối với Chính phủ, bằng cách lựa chọn các chính sách của mình, có thể làm giảm đi hoặc cải thiện lợi thế quốc gia. Ví dụ, các quy định có thể điều chỉnh các điều kiện về cầu của quốc gia, các chính sách chống độc quyền có thể tác động tới mức độ cạnh tranh nội bộ ngành, và các khoản đầu tƣ của chính phủ vào giáo dục đào tạo có thể thay đổi điều kiện về các yếu tố sản xuất.” “Sự hiện diện của tất cả bốn thuộc tính là yêu cầu để hình thành lên mô hình kim cƣơng nhằm thúc đẩy năng lực cạnh tranh (mặc dù vẫn tồn tại những ngoại lệ) và M.Porter cũng khẳng định rằng chính phủ có thể can thiệp tới từng thuộc tính trong số bốn thuộc tính thành phần của mô hình kim cƣơng một cách tích cực hoặc tiêu 8 cực. Điều kiện về yếu tố sản xuất có thể bị ảnh hƣởng bởi các khoản trợ cấp, các chính sách đối với thị trƣờng vốn, các chính sách đối với giáo dục, v. Chính phủ có thể xác lập nhu cầu nội địa thông qua các tiêu chuẩn sản phẩm nội địa hoặc bằng các quy định bắt buộc hoặc ảnh hƣởng tới nhu cầu của ngƣời mua hàng.
Chính sách của chính phủ có thể tác động tới các ngành hỗ trợ và liên quan thông qua các quy định và ảnh hƣởng tới đối thủ cạnh tranh thông qua các công cụ nhƣ quy định trên thị trƣờng vốn, chính sách thuế, và luật chống độc quyền. ” “Nhƣ vậy, theo lý thuyết lợi thế cạnh tranh, các nƣớc nên xuất khẩu những sản phẩm của những ngành mà tại đó cả bốn thành phần của mô hình kim cƣơng có điều kiện thuận lợi, và nhập khẩu trong những lĩnh vực tại đó các thành phần không có điều kiện thuận lợi.