Chương 1: Những vấn đề lý luận và thực tiễn về cơ chế quản lý thuế. Chương 2 : Thực trạng cơ chế quản lý thuế đối với hộ kinh doanh cá thể ở chi cục thuế thị xã Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình. Chương 3 : Phương hướng và giải pháp nhằm hoàn thiện cơ chế quản lý thuế đối với hộ kinh doanh cá thể ở Việt Nam. 7 CHƢƠNG I NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CƠ CHẾ QUẢN LÝ THUẾ ĐỐI VỚI HỘ KINH DOANH CÁ THỂ 1.
QUẢN LÝ THUẾ VÀ CƠ CHẾ QUẢN LÝ THUẾ. Thuế và quản lý thuế. Thuế và chức năng của thuế. Ra đời tồn tại cùng với nhà nước, từ đó đến nay, thuế đã trải qua một quá trình phát triển lâu dài và quan niệm về thuế cũng không ngừng được hoàn thiện.
Những nội dung cơ bản của thuế là: - Thuế là biện pháp động viên của nhà nước mang tính chất bắt buộc đối với các tổ chức và mọi thành viên trong xã hội, gắn liền với quyền lực chính trị của nhà nước. - Thuế là khoản đóng góp nghĩa vụ, bắt buộc mọi tổ chức và thành viên trong xã hội phải nộp vào ngân sách nhà nước. - Thuế là một bộ phận của cải từ khu vực tư chuyển vào khu vực công nhằm trang trải những chi phí nuôi sống bộ máy nhà nước và trang trải các chi phí công cộng mang lại lợi ích chung cho cộng đồng. - Thuế là một hình thức phân phối thu nhập được nhà nước sử dụng để động viên một phần thu nhập của các tổ chức và cá nhân trong xã hội vào ngân sách nhà nước.
Bản chất, đặc trƣng của thuế. Trên thực tế có rất nhiều các định nghĩa, quan điểm khác nhau, nhưng có thể rút ra một số đặc trưng chung của thuế như sau: Một là: Nội dung kinh tế của thuế được đặc trưng bởi các mối quan hệ tiền tệ phát sinh giữa Nhà nước với các pháp nhân và các thể nhân trong xã hội. 8 Hai là: Những mối quan hệ dưới dạng tiền tệ này được nảy sinh một cách khách quan và có ý nghĩa xã hội đặc biệt - việc chuyển giao thu nhập có tính chất bắt buộc theo mệnh lệnh của nhà nước. Ba là: Xét theo khía cạnh luật pháp, thuế là một khoản nộp cho Nhà nước được pháp luật quy định theo mức thu và thời hạn nhất định.
Như vậy thuế là khoản đóng góp bắt buộc từ các thể nhân, pháp nhân cho Nhà nước theo mức độ và thời hạn được pháp luật qui định nhằm sử dụng cho mục đích công cộng. Bản chất của thuế được thể hiện bởi các thuộc tính bên trong vốn của thuế. Những thuộc tính đó có tính ổn định, tương đối qua từng giai đoạn phát triển và biểu hiện thành những đặc trưng riêng của thuế, qua đó giúp ta phân biệt giữa thuế với các công cụ tài chính khác như: + Tính bắt buộc + Tính không hoàn trả trực tiếp + Tính pháp lý cao Chức năng của thuế - Một là: Huy động nguồn lực tài chính cho Nhà nước, là nguồn thu chủ yếu của ngân sách nhà nước Đây là chức năng cơ bản của thuế, đặc trưng cho tất cả các dạng Nhà nước. Về mặt lịch sử, chức năng huy động nguồn lực tài chính là chức năng đầu tiên, phản ánh nguyên nhân nảy sinh ra thuế.
Nhờ chức năng huy động nguồn lực tài chính mà quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước được hình thành, qua đó đảm bảo cơ sở vật chất cho sự tồn tại và hoạt động của Nhà nước. Chính chức năng này đã tạo ra những tiền đề để Nhà nước tiến hành phân phối và phân phối lại tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân trong xã hội. Sự phát triển và mở rộng các chức năng của Nhà nước với một nền kinh tế nhiều thành phần, đòi hỏi phải tăng cường chi tiêu tài chính, do đó vai trò 9 của chức năng huy động tập trung nguồn lực của thuế ngày càng cao đòi hỏi thuế phải bao quát được hầu hết các nguồn thu nhập trong xã hội, để đảm bảo nhu cầu chi tiêu của NSNN, đảm bảo cân bằng cán cân thanh toán. Nhà nước thông qua thuế tiến hành phân phối một bộ phận đáng kể tổng sản phẩm quốc nội.
Thuế trở thành nguồn thu chiếm tỷ trọng lớn nhất trong ngân sách các nước có nền kinh tế thị trường. Chức năng huy động nguồn lực tài chính tạo ra những tiền đề khách quan cho sự điều tiết của Nhà nước đối với nền kinh tế. Hay nói cách khác, quá trình huy động tập trung nguồn lực thông qua thuế đã tự động làm xuất hiện chức năng điều tiết kinh tế của thuế. Chức năng huy động nguồn lực và chức năng điều tiết kinh tế có mối quan hệ hữu cơ với nhau.
Hai là, thuế là công cụ để Nhà nước điều tiết kinh tế Chức năng điều tiết kinh tế của thuế mặc dù có cơ sở nảy sinh từ chức năng huy động tập trung nguồn lực, nhưng chỉ được nhận thức và sử dụng rộng rãi từ những năm đầu của thế kỷ XX khi vai trò điều tiết kinh tế của Nhà nước được thực hiện. Việc tăng cường chức năng kinh tế - xã hội của Nhà nước dẫn đến mức độ chi tiêu công ngày càng lớn và hậu quả tất yếu đòi hỏi Nhà nước phải tăng cường nguồn lực tài chính Nhà nước, nguồn lực được hình thành chủ yếu từ thuế. Chức năng điều tiết kinh tế của thuế được thực hiện thông qua việc quy định các hình thức thu thuế khác nhau, xác định hợp lý người nộp thuế, đối tượng đánh thuế, thuế xuất, chế độ miễn giảm, phương pháp quản lý thu thuế, Thuế là công cụ điều tiết đối với thu nhập của các tầng lớp xã hội và được thể hiện trên hai mặt đó là khuyến khích, thúc đẩy những hoạt động kinh doanh cần thiết có hiệu quả cao; đồng thời thu hẹp, kìm hãm những ngành nghề, mặt hàng cần hạn chế tiêu dùng, hạn chế sản xuất theo hướng tiết kiệm chống lãng phí, thúc đẩy mở rộng thị trường cạnh tranh lành mạnh. Trên cơ sở đó, Nhà 10 nước kích thích các hoạt động kinh tế đi vào quỹ đạo chung, phù hợp với lợi ích của xã hội.
Như vậy, bằng cách điều tiết và kích thích, chức năng điều tiết kinh tế của thuế đã được thực hiện. Trong điều kiện chuyển sang kinh tế thị trường, vai trò kích thích kinh tế thông qua thuế ngày càng được nâng cao. Nhà nước sử dụng thuế để tác động đến lợi ích kinh tế của các chủ thể kinh tế vì lợi ích của xã hội. Giữa chức năng huy động nguồn lực tài chính và chức năng điều tiết kinh tế có mối quan hệ gắn bó mật thiết với nhau.
Chức năng huy động nguồn lực tài chính nảy sinh đồng thời với sự ra đời của thuế và được coi là chức năng cơ sở, qua đó quy định sự tác động và sự phát triển của chức năng điều tiết. Ngược lại, nhờ sự vận dụng đúng đắn chức năng điều tiết kinh tế đã làm cho chức năng huy động nguồn lực tài chính của thuế có điều kiện phát triển. Ý nghĩa của chức năng huy động nguồn lực tài chính càng tăng lên nhằm đảm bảo nguồn thu nhập cho Nhà nước đã tạo ra những điều kiện khách quan để Nhà nước tác động một cách sâu rộng đến các quá trình kinh tế và xã hội. Điều đó tạo ra tiền đề tăng thêm thu nhập cho các tầng lớp dân cư, do đó mở rộng cơ sở thực hiện chức năng huy động nguồn lực tài chính.
Đó là sự thống nhất biện chứng giữa các chức năng của thuế. Sự thống nhất đó cũng không loại trừ những mặt mâu thuẫn. Sự tăng cường chức năng huy động tập trung tài chính làm cho mức thu nhập của Nhà nước tăng lên. Điều đó đồng nghĩa với việc mở rộng khả năng của Nhà nước trong việc thực hiện các chương trình kinh tế - xã hội.
Mặt khác, việc tăng cường chức năng huy động một cách quá mức sẽ làm tăng gánh nặng thuế và hậu quả của nó là giảm động lực phát triển kinh tế và làm xói mòn vai trò điều tiết kinh tế. Đó là tính hai mặt của thuế, nó có khả năng ảnh hưởng đến nền kinh tế một cách tích cực, nhưng cũng có thể ảnh hưởng đến nền kinh tế một cách tiêu cực. Tính hai mặt của sự tác động đó cần phải được tính toán kỹ lưỡng trong tiến trình hoạch định chính sách thuế ở mỗi giai đoạn phát triển kinh tế khác nhau. 11 Tóm lại, để phát huy được vai trò của thuế trong nền kinh tế, phải sử dụng thuế đúng với chức năng của nó.
Tuy nhiên, vai trò của thuế đối với nền kinh tế ở mỗi quốc gia không giống nhau mà tuỳ thuộc vào "nghệ thuật sử dụng" công cụ thuế của mỗi quốc gia đó. Vấn đề có tính nguyên tắc là thuế phải luôn luôn phù hợp với mục tiêu, đường lối phát triển kinh tế xã hội mỗi quốc gia trong từng thời kỳ nhất định. Đó cũng là lý do mà các quốc gia phải thường xuyên rà soát mức độ phù hợp của hệ thống thuế với chiến lược phát triển kinh tế xã hội của mình, thực hiện các cải cách thuế kịp thời nếu thấy cần thiết. Quan niệm về quản lý thuế.
Để đảm bảo mục tiêu thu đúng, đủ thuế nhằm phát huy đầy đủ vai trò của thuế trong phát triển kinh tế xã hội, Nhà nước phải đề ra các quy định, luật pháp nhằm tạo một hành lang thống nhất, buộc mọi tổ chức, cá nhân kinh doanh phải thực hiện theo. Để Luật pháp về thuế được đảm bảo thực hiện, Nhà nước phải tổ chức ra bộ máy để quản lý thu thuế và giám sát thực hiện đối với bộ máy này. Do bản chất của thuế không mang tính hoàn trả trực tiếp nên việc yêu cầu người nộp thuế tự giác khi không có hệ thống luật pháp để bắt buộc là điều không thể thực hiện, thậm chí kể cả khi có hệ thống luật pháp về thuế, nhiều tổ chức cá nhân nộp thuế vẫn cố tình không thực hiện hoặc lợi dụng kẽ hở của chính sách để tư lợi. Vì vậy, vai trò quản lý thuế của Nhà nước mang tính áp đặt và là một tất yếu khách quan trong quá trình quản lý.
Từ những cơ sở lý luận trên ta có thể định nghĩa một cách khái quát về quản lý thuế như sau: Quản lý thuế là việc Nhà nước sử dụng các phương tiện, cách thức, biện pháp nhằm thực hiện việc thu thuế sao cho đạt hiệu quả, đúng mục tiêu, mục đích đề ra trong việc xây dựng và phát triển kinh tế- xã hội của đất nước 12 trong từng thời kỳ.