CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ THUẾ TNCN 1. Thuế thu nhập cá nhân 1. Khái niệm thuế thu nhập cá nhân - Khái niệm về Thuế: “Thuế là một khoản đóng góp bắt buộc từ các thể nhân và pháp nhân cho Nhà nước theo mức độ và thời hạn được pháp luật quy định nhằm sử dụng cho mục đích công cộng. Có thể nói thuế ra đời đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển và tồn tại của Nhà nước, đồng thời là công cụ để nhà nước điều tiết nền kinh tế.
Có nhiều loại sắc thuế khác nhau và đều đóng vài trò quan trọng trong việc góp phần vào NSNN, và thuế TNCN ngoài đóng góp vào nguồn thu của NSNN còn có chức năng giúp thực hiện công bằng xã hội.” [10] “Có thể hiểu thuế TNCN là một loại thuế trực thu đánh vào thu nhập thực nhận của các cá nhân trong một năm, từng tháng hoặc từng lần”. Đặc điểm thuế thu nhập cá nhân + “Thuế thu nhập cá nhân là một hình thức động viên mang tính bắt buộc trên nguyên tắc theo luật định. Phân phối khoản thu nhập qua thuế thu nhập cá nhân gắn với quyền lực, sức mạnh của Nhà nước.” [8] + “Thuế thu nhập cá nhân là khoản đóng góp không hoàn trả trực tiếp cho người nộp. Nó vận động một chiều, không phải là khoản thù lao mà người nộp thuế phải trả cho Nhà nước do được hưởng các dịch vụ Nhà nước cung cấp.” [8] + Thuế thu nhập cá nhân luôn gắn với chính sách xã hội của mỗi quốc gia.
Hầu hết các quốc gia đều gắn chính sách thuế thu nhập cá nhân với một số chính sách xã hội khác ( như phúc lợi công cộng, chăm sóc sức khỏe…). + Thuế thu nhập cá nhân là thuế trực thu. Do vậy, người nộp thuế cũng là người chịu thuế. + Thuế thu nhập cá nhân có diện thu thuế rất rộng, tất cả các cá nhân có thu nhập bao gồm: công dân nước sở tại và người nước ngoài cư trú thường xuyên hay không thường xuyên tại nước đó và hầu như tất cả số thu nhập có được của các cá nhân đều phải tính thuế không kể nguồn thu nhập phát sinh trong nước 4 hay ngoài nước.
Chính vì vậy, khả năng tạo nguồn thu cho ngân sách của thuế thu nhập cá nhân rất cao. + Việc đánh thuế thu nhập cá nhân thường áp dụng theo nguyên tắc thuế suất lũy tiến từng phần. Đặc điểm này xuất phát từ vai trò chủ yếu của thuế thu nhập cá nhân là điều tiết mạnh người có thu nhập cao, góp phần thực hiện công bằng xã hội. Do vậy, việc sử dụng thuế suất lũy tiến từng phần sẽ đáp ứng được nhu cầu đó vì phần thu nhập tăng thêm càng cao thì sẽ phải tính thuế suất càng cao.
+ Xét về góc độ kinh tế, thuế thu nhập cá nhân có tính trung lập cao hơn so với các loại thuế khác vì việc tăng hay giảm thuế thu nhập cá nhân hầu như không kéo theo những biến đổi về cơ cấu kinh tế” [8] 1. Vai trò thuế TNCN Là một bộ phận của hệ thống thuế, thuế thu nhập cá nhân vừa mang các vai trò chủ yếu của thuế nói chung, vừa có các vai trò riêng mà các loại thuế khác không có được. Đối với nền kinh tế - xã hội - Tạo lập nguồn tài chính cho Ngân sách Nhà nước. “Thuế là nguồn thu chủ yếu của ngân sách nhà nước, trong đó thuế thu nhập cá nhân là một trong những bộ phận quan trọng cấu thành thuế nói chung nên cũng góp một phần quan trọng để tạo nguồn tài chính cho nhà nước.
Bên cạnh đó, thuế thu nhập cá nhân tác động trực tiếp vào thu nhập của người dân” [10] - Góp phần thực hiện công bằng xã hội “Đây là một trong những vai trò quan trọng của thuế nói chung, ngoài ra với thuế thu nhập cá nhân cùng với việc thực hiện biểu thuế luỹ tiến từng phần, thuế thu nhập cá nhân đã thực hiện được việc điều tiết thu nhập, đảm bảo công bằng trong xã hội” [10] - Góp phần phát hiện thu nhập bất hợp pháp “Nhiều cá nhân không giải thích được sự gia tăng bất thường của các khoản 5 thu nhập, đặc biệt là việc làm giàu từ những hành vi phạm pháp, tham nhũng, nhận hối lộ,. Những hành vi này ảnh hưởng rất xấu đến đời sống kinh tế – xã hội.Do đó cần có những công cụ ngăn chặn và hạn chế những hành vi trên, và thuế TNCN là một trong số đó. Đối với hệ thống thuế - Góp phần khắc phục nhược điểm của một số loại thuế khác Một số thuế gián thu như thuế GTGT, TTĐB đều có nhược điểm là có tính luỹ thoái. Chính vì lẽ đó nó không phân biệt mức thuế phải chịu của người có thu nhập cao với người có thu nhập thấp khi cùng mua một lượng hàng hóa, dịch vụ như nhau.
Do đó thuế TNCN sẽ góp phần khắc phục nhược điểm này. - Góp phần hạn chế sự thất thu thuế TNDN Giữa hai loại thuế này luôn luôn tồn tại mối quan hệ gắn bó với nhau. Thuế 6 thu nhập cá nhân còn góp phần khắc phục sự thất thu thuế thu nhập doanh nghiệp khi có sự thông đồng giữa các doanh nghiệp hay giữa doanh nghiệp với cá nhân. Ví dụ doanh nghiệp thực hiện hành vi kê khai tăng thu nhập cho cá nhân để nhằm giảm thu nhập tính thuế của doanh nghiệp, trục lợi phần thuế TNDN.
Khi đó các cá nhân trong kê khai trên sẽ phải nộp thuế TNCN nhiều hơn so với thực tế,. Đối tượng, căn cứ và phương pháp tính thuế thu nhập cá nhân 1. Đối tượng nộp thuế thu nhập cá nhân Thuế TNCN là một loại thuế trực thu, do đó đối tượng nộp thuế cũng là đối tượng chịu thuế. Theo tiêu thức “nơi cư trú", một cá nhân được xác định là cư trú ở một nước phải nộp thuế tại đó đối với mọi khoản thu nhập phát sinh từ khắp nơi trên thế giới, còn một cá nhân được xác định là không cư trú ở một nước chỉ phải nộp thuế cho phần thu nhập phát sinh tại nước đó.
Theo tiêu thức “nguồn phát sinh thu nhập” lại quy định: một cá nhân phải nộp thuế thu nhập cá nhân ở một nước đối với mọi khoản thu nhập của cá nhân phát sinh tại nước đó. Hiện nay, đa số các nước tính thuế thu nhập cá nhân theo tiêu thức “nơi cư trú”. Tuy nhiên, khái niệm thế nào là một cá nhân cư trú tại một nước lại được định nghĩa khác nhau trong luật thuế thu nhập cá nhân của các nước. Luật thuế thu nhập cá nhân Việt Nam quy định, công dân Việt Nam ở trong nước hoặc đi lao động, công tác ở nước ngoài; cá nhân khác định cư không thời hạn ở Việt Nam, người nước ngoài ở Việt Nam từ 183 ngày trong 12 tháng liên tục được coi là cư trú ở Việt Nam là đối tượng nộp thuế thu đối với mọi khoản thu nhập chịu thuế.
Sự phân biệt cư trú hay không cư trú của một đối tượng nộp thuế là rất quan trọng để xác định đối tượng nộp thuế đó phải nộp thuế ở mức độ nào. 7 Như vậy, có thể thấy tùy vào chính sách và trình độ quản lý của từng nước mà mỗi nước sẽ đưa ra các định nghĩa sao cho phù hợp với tình hình của mình. Việc xác định đối tượng nộp thuế căn cứ vào tiêu thức “nguồn phát sinh thu nhập” được hầu hết các nước áp dụng để tính thuế các khoản thu nhập phát sinh tại nước đó của những cá nhân không cư trú. Việt Nam quy định đối tượng nộp thuế thu nhập cá nhân bao gồm: 1.
Công dân Việt Nam ở trong nước hoặc đi công tác, lao động ở nước ngoài có thu nhập. Cá nhân là người không mang quốc tịch Việt Nam nhưng định cư không thời hạn tại Việt Nam có thu nhập (sau đây gọi là cá nhân khác định cư tại Việt Nam) 3. Người nước ngoài làm việc tại Việt Nam kể cả người nước ngoài không sinh sống tại Việt Nam nhưng có thu nhập tại Việt Nam. Căn cứ tính thuế thu nhập cá nhân “Thu nhập được phân loại theo những tiêu thức nhất định để xác định đối tượng tính thuế: - Theo thời gian, người ta chia thu nhập thành thu nhập thường xuyên và không thường xuyên.
- Theo nguồn tạo ra thu nhập, người ta chia thành thu nhập từ lao động, 8 thu nhập từ đầu tư, thu nhập khác. + Thu nhập từ lao động: là khoản thu nhập thường xuyên nhận được dưới dạng thu nhập từ kinh doanh, hành nghề tự do như tiền lương, tiền công hoặc các khoản thù lao khác mà cá nhân nhận được trong quá trình lao động. + Thu nhập từ đầu tư: lãi cổ phần, lãi cho vay, tiền bản quyền… + Thu nhập khác: lãi từ chuyển nhượng tài sản, thu nhập từ quà biếu, quà tặng, tiền nhuận bút, trúng xổ số… Theo chủ thể hưởng thu nhập, người ta chia thu nhập thành: thu nhập công ty, thu nhập cá nhân, thu nhập chính phủ …”. [9] * Những nguyên tắc khấu trừ để xác định thu nhập tính thuế: “Tất cả các chi phí trực tiếp liên quan đến việc tạo ra thu nhập cá nhân đều được khấu trừ để xác định thu nhập thực nhận được, sau đó trừ tiếp một số khoản mang tính chất xã - hội trước khi tính thuế.
Các khoản khấu trừ có tính chất kinh tế để xác định thu nhập. - Đối với thu nhập từ các hoạt động thương mại, công nghiệp, dịch vụ của các hộ kinh doanh cá thể không thuộc diện tính thuế thu nhập doanh nghiệp. Nguyên tắc khấu trừ là tất cả các chi phí cần thiết và liên quan trực tiếp đến hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ để tạo ra thu nhập mà người nộp thuế đã thực hiện bao gồm: lương công nhân, chi phí thuê mướn, tiền trợ cấp, chi phí mua vật tư, nguyên liệu, chi phí bảo hiểm, các chi phí về dịch vụ được cung cấp từ bên ngoài, khấu hao máy móc, thiết bị, nhà xưởng, vật kiến trúc và một vài chi chi phí phân bổ chung…” [9] - Đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công, hưu trí, trợ cấp xã hội và các khoản tương tự. Với thu nhập loại này, người ta cho phép trừ ra khỏi thu nhập một mức nào đó gọi là chi phí nghề nghiệp bao gồm: + Các khoản đóng góp xã hội: bảo hiểm xã hội, bảo hiểm tuổi già… + Các khoản chi phí nghề nghiệp được khấu trừ theo quy định: có thể tính chung theo một tỷ lệ khoán (ví dụ khoảng 10% hoặc 15%) hoặc theo chi tiêu 9 thực tế nếu có các chứng từ hợp lệ chứng minh.