CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ THUẾ TNCN 1. Các khái niệm liên quan đến quản lý thuế TNCN 1. Khái niệm về thuế TNCN Thuế thu nhập là loại thuế trực thu, điều tiết trực tiếp thu nhập thực tế của các cá nhân và các tổ chức trong xã hội trong một khoảng thời gian nhất định (thường là một năm). Về nguyên tắc, bất kỳ một thể nhân hay pháp nhân nào khi nhận được thu nhập dưới bất cứ hình thức nào (hiện vật và giá trị) và bất kể từ nguồn nào (do lao động hay do đầu tư…) đều phải trích một phần từ thu nhập đó để nộp cho nhà nước dưới dạng thuế thu nhập.
Theo David Begg, thuế TNCN là “từng cá nhân nộp thuế thu nhập về khoản tiền kiếm được do sức lao động, tiền cho thuê, cổ tức và lãi suất”. Như vậy, có thể hiểu thuế TNCN là loại thuế trực thu đánh vào thu nhập thực nhận được của các cá nhân trong một kỳ tính thuế nhất định thường là một năm, từng tháng hoặc từng lần, không phân biệt nguồn gốc phát sinh thu nhập. Khái niệm về thu nhập chịu thuế TNCN Từ khái niệm thuế TNCN ta có khái niệm liên quan là thu nhập chịu thuế TNCN. Căn cứ Điều 2 Thông tư 119/2014/TT-BTC ngày 25/8/2014 của Bộ Tài chính sửa đổi, bổ sung các khổ 1, 2, 3, 4 Điều 1 Thông tư số 111/2013/TT-BTC của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện Luật Thuế TNCN, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế TNCN và Nghị định số 65/2013/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Thuế TNCN và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế TNCN như sau: “Điều 1.
Người nộp thuế. Phạm vi xác định thu nhập chịu thuế của NNT như sau: 10 Luan van Đối với cá nhân cư trú, thu nhập chịu thuế là thu nhập phát sinh trong và ngoài lãnh thổ Việt Nam, không phân biệt nơi trả thu nhập; Đối với cá nhân là công dân của quốc gia, vùng lãnh thổ đã ký kết Hiệp định với Việt Nam về tránh đánh thuế hai lần và ngăn ngừa việc trốn lậu thuế đối với các loại thuế đánh vào thu nhập và là cá nhân cư trú tại Việt Nam thì nghĩa vụ thuế TNCN được tính từ tháng đến Việt Nam trong trường hợp cá nhân lần đầu tiên có mặt tại Việt Nam đến tháng kết thúc hợp đồng lao động và rời Việt Nam (được tính đủ theo tháng) không phải thực hiện các thủ tục xác nhận lãnh sự để được thực hiện không thu thuế trùng hai lần theo Hiệp định tránh đánh thuế trùng giữa hai quốc gia. Đối với cá nhân không cư trú, thu nhập chịu thuế là thu nhập phát sinh tại Việt Nam, không phân biệt nơi trả và nhận thu nhập” Các khoản thu nhập chịu thuế bao gồm: thu nhập từ kinh doanh, thu nhập từ tiền lương tiền công, thu nhập từ đầu tư vốn, thu nhập từ chuyển nhượng vốn, thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản, thu nhập từ trúng thưởng, thu nhập từ bản quyền, thu nhập từ nhượng quyền thương mại, thu nhập từ nhận thừa kế, thu nhập từ nhận quà tặng. Thuế TNCN được thực hiện theo đối tượng.
Để xác định đối tượng/NNT TNCN, hầu hết các nước áp dụng nguyên tắc cư trú, kết hợp với nguyên tắc đánh thuế theo nguồn phát sinh thu nhập. Một cá nhân được coi là đối tượng cư trú tại một nước phải chịu thuế TNCN đối với toàn bộ thu nhập nhận được, không phân biệt nguồn gốc phát sinh. Đối tượng không cư trú chỉ phải chịu nghĩa vụ thuế đối với phần thu nhập có nguồn gốc tại nước đánh thuế. Đa số các nước quy định, đối tượng cư trú là người sinh sống ở nước sở tại trên 182 hoặc trên 183 ngày trong năm tính thuế (năm dương lịch hoặc năm tài chính) hoặc trong 12 tháng liên tục.
Nếu không thỏa mãn điều kiện trên thì được coi là đối tượng không cư trú. Có thể thấy qua một số nước như Malaysia, Thái Lan, Singapore, Indonesia, Trung Quốc, Hàn Quốc, Mỹ… Ở Việt Nam cá nhân cư trú được xác định là cá nhân có mặt tại Việt Nam từ 183 ngày trở lên. Khái niệm và mục tiêu quản lý thuế TNCN Quản lý thuế nói chung và quản lý thuế TNCN nói riêng là lĩnh vực quản lý chuyên ngành. Vì vậy, để làm rõ khái niệm quản lý thuế và quản lý thuế TNCN, trước hết cần tìm hiểu khái niệm quản lý.
Theo từ điển Tiếng Việt, “Quản lý là trông coi và điều khiển các hoạt động nào đó theo những yêu cầu nhất định”. Trong cuốn giải thích thuật ngữ pháp lý Việt Nam thì giải thích: “Quản lý là sự tác động của chủ thể quản lý đến các đối tượng bị quản lý nhằm đạt được mục tiêu đề ra của tổ chức. Nó nhằm chỉ một tập hợp các hoạt động cần thiết phải được thực hiện nhằm đạt được những mục tiêu chung”. Các khái niệm đều chỉ ra rằng quản lý là nói đến hoạt động của con người nhằm thực hiện những mục tiêu đã định thông qua các hoạt động lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo, phối hợp, kiểm soát và thúc đẩy hoạt động của những con người trong tổ chức đó.
Quản lý thuế là một lĩnh vực quản lý chuyên ngành thuộc quản lý hành chính Nhà nước. Trong cuốn “Tài chính công” của Khoa Tài chính Nhà nước Trường Đại học Kinh tế TP. HCM (2005) thì “Quản lý thuế là những biện pháp nghiệp vụ do cơ quan có chức năng thu NSNN thực hiện”. “Đó là những hoạt động thường xuyên của cơ quan thu hướng về phía đối tượng nộp nhằm đảm bảo thu thuế đầy đủ, kịp thời và đúng luật định”.
Với quan niệm như vậy, quản lý thuế là quản lý thu thuế. Nó bao gồm xây dựng kế hoạch thu thuế, tổ chức các biện pháp hành thu và tổ chức bộ máy ngành thuế. Xuất phát từ những phân tích trên, theo tác giả “Quản lý thuế là quá trình Nhà nước sử dụng hệ thống các công cụ và phương pháp thích hợp tác động lên đối tượng của quản lý thuế làm cho chúng vận động phù hợp với mục tiêu đặt ra”. Như vậy, quản lý thuế bao gồm cả hoạt động xây dựng chính sách thuế, ban hành pháp luật thuế và hoạt động tổ chức hành thu, xây dựng lực lượng cán bộ thuế có trình độ chuyên môn nghiệp vụ cao để đảm bảo nâng cao hiệu quả quản lý thuế.
Các vấn đề về chủ thể quản lý, đối tượng quản lý, công cụ và phương pháp quản lý, mục tiêu quản lý là những yếu tố trung tâm đòi hỏi phải được xác định đúng đắn. 12 Luan van Khái niệm quản lý thuế TNCN cũng không nằm ngoài khái niệm chung về quản lý thuế, theo đó “Quản lý thuế TNCN là quá trình Nhà nước sử dụng hệ thống các công cụ và phương pháp quản lý thuế TNCN tác động lên quan hệ phát sinh trong quản lý thuế TNCN làm cho chúng vận động theo đúng quỹ đạo mong muốn của nhà quản lý nhằm đạt được các mục tiêu của quản lý thuế TNCN”. Theo đó, khái niệm trên đã chỉ rõ: Chủ thể quản lý thuế TNCN là Nhà nước. Quan hệ phát sinh trong công tác quản lý thuế TNCN là các quan hệ phát sinh trước, trong và sau khi triển khai tổ chức thu, nộp thuế TNCN cho Nhà nước.
Công cụ của quản lý thuế TNCN là pháp luật, kế hoạch, chính sách và một số công cụ khác. Phương pháp quản lý thuế TNCN gồm các phương pháp như: phương pháp hành chính, phương pháp kinh tế, phương pháp giáo dục… Quản lý thuế TNCN hướng tới mục tiêu tập trung, huy động đầy đủ, kịp thời số thu cho NSNN, tối thiểu hóa chi phí nâng cao hiệu quả quản lý thuế, tăng cường ý thức chấp hành pháp luật của NNT. Tóm lại, quản lý thuế nói chung và quản lý thuế TNCN nói riêng là một trong các nhiệm vụ của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, trong đó các cơ quan quản lý thuế như cơ quan thuế, cơ quan hải quan đóng vai trò chủ đạo. Thực hiện tốt nhiệm vụ quản lý thuế có tác động tích cực tới quá trình thu, nộp thuế, tránh thất thoát nguồn NSNN.
Mục tiêu quản lý thuế TNCN: Thứ nhất, quản lý thuế TNCN đảm bảo nguồn thu từ thuế phải được tập trung một cách chính xác, đầy đủ, kịp thời cho ngân sách quốc gia. Thứ hai, quản lý thuế TNCN phải nhằm nâng cao tính hiệu quả, hiệu lực của quản lý nói chung. Thứ ba, quản lý thuế TNCN phải có tác động tích cực đến sự phát triển kinh tế, đảm bảo nuôi dưỡng nguồn thu, phát huy vai trò tích cực của hệ thống thuế trong đời sống kinh tế - xã hội. Thứ tư, quản lý thuế TNCN phải đảm bảo sự tuân thủ pháp luật, giảm thiểu được các hành vi vi phạm pháp luật và phản ánh kịp thời các yêu cầu của xã hội, các bất cập trong chính sách để có sự điều chỉnh kịp thời.
Vai trò của quản lý thuế TNCN Là một bộ phận của hệ thống thuế, thuế TNCN vừa mang các vai trò chủ yếu của thuế nói chung, vừa mang các vai trò riêng. - Quản lý thuế TNCN có vai trò quyết định trong việc đảm bảo nguồn thu từ thuế TNCN được tập trung, chính xác, kịp thời, thường xuyên, ổn định cho NSNN. Thông qua việc lựa chọn áp dụng các biện pháp quản lý thuế TNCN có hiệu quả, cũng như xây dựng và áp dụng quy trình, thủ tục về thuế TNCN hợp lý, cơ quan thuế đảm bảo thu thuế TNCN đúng luật, đầy đủ và kịp thời vào NSNN. - Quản lý thuế TNCN góp phần hoàn thiện chính sách và pháp luật thuế TNCN.
Những điểm còn bất cập trong chính sách thuế TNCN và khiếm khuyết trong các luật thuế TNCN được phát hiện trong quá trình áp dụng luật thuế TNCN vào thực tiễn và qua hoạt động quản lý thuế TNCN. Trên cơ sở đó cơ quan điều hành thực hiện pháp luật đề xuất bổ sung, sửa đổi các luật thuế TNCN. - Quản lý thuế TNCN giúp Nhà nước thực hiện kiểm soát và điều tiết các hoạt động kinh tế của các tổ chức, cá nhân trong xã hội. Theo quy định của pháp luật thuế TNCN, NNT có trách nhiệm phải kê khai thuế TNCN.
Nội dung kê khai thuế TNCN là kê khai các hoạt động kinh tế có liên quan đến việc tính toán nghĩa vụ thuế của NNT, tức là phải kê khai các hoạt động kinh tế phát sinh, các giao dịch kinh doanh của NNT.