Lời mở đầu, Phần nội dung và Phần kết luận. Trong đó, phần nội dung gồm 3 phần: Chƣơng I: Cơ sở lý luận về phát triển tín dụng của NHTM đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ trong nền kinh tế. Chƣơng II: Thực trạng phát triển tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Ngân hàng TMCP An Bình chi nhánh Hà Nội. Chƣơng III: Giải pháp phát triển tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Ngân hàng TMCP An Bình chi nhánh Hà Nội.
2 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN TÍN DỤNG CỦA NHTM ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ TRONG NỀN KINH TẾ 1. TÍN DỤNG NGÂN HÀNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƢỜNG 1. Vai trò của doanh nghiệp vừa và nhỏ trong nền kinh tế 1. Khái niệm doanh nghiệp vừa và nhỏ Trước khi tìm hiểu về DNVVN, chúng ta cần phải nắm được khái niệm về “Doanh nghiệp”.
Theo Luật Doanh nghiệp 2014, Khoản 7 Điều 4 viết: “Doanh nghiệp là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh”. Các loại hình doanh nghiệp trong nền kinh tế hội nhập hiện nay rất đa dạng và phong phú, với mỗi cách tiếp cận khác nhau sẽ có khái niệm phân chia các loại hình doanh nghiệp khác nhau. Trên thực tế, không có một tiêu chí chung nào để phân loại các DNVVN trên thế giới mà mỗi quốc gia sẽ có một cách phân loại riêng tùy theo điều kiện kinh tế xã hội cụ thể. Các quốc gia trên thế giới chủ yếu áp dụng hai nhóm tiêu chí chính để phân loại các loại DNVVN đó là: tiêu chí định tính và tiêu chí định lượng.
Nhóm tiêu chí định tính dựa trên những đặc trưng cơ bản của doanh nghiệp như chuyên môn hoá, trình độ quản lý, trình độ kỹ thuật,. Các tiêu chí này có ưu thế là phản ánh đúng bản chất của vấn đề nhưng thường khó xác định trên thực tế. Do đó chúng thường được dùng làm cơ sở để tham khảo trong, kiểm chứng mà ít được sử dụng để phân loại trong thực tế. Nhóm tiêu chí định lượng có thể dựa vào các tiêu chí như số lao động, giá trị tài sản hay vốn, doanh thu, lợi nhuận.
Trong đó: Số lao động: Có thể lao động trung bình trong danh sách, lao động thường xuyên, lao động thực tế. Tài sản hay vốn: Có thể là tổng giá trị tài sản (hay vốn), tài sản cố định, giá trị tài sản còn lại. Doanh thu: Có thể là tổng doanh thu/năm, tổng giá trị gia tăng/năm. 3 Theo tiêu chí phân loại của Ngân hàng thế giới (World Bank), căn cứ vào quy mô có thể chia DNVVN thành ba loại: doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp vừa.
Các tiêu chí để phân loại DNVVN của World Bank chủ yếu dựa vào số lượng lao động bình quân, tài sản và doanh thu hàng năm của doanh nghiệp. Ngoài ra World Bank còn đưa thêm tiêu chí về quy mô vay trung bình để phân loại DNVVN (Bảng 1.1 Tiêu chí phân loại DNVVN của World Bank Qui mô công ty Nhân viên Tài sản Doanh thu hàng năm Siêu nhỏ <10 < $100,000 < $100,000 Nhỏ <50 < $3 triệu < $3 triệu Vừa <300 < $15 triệu < $15 triệu Quy mô vay trung bình Siêu nhỏ < $10,000 Nhỏ < $100,000 Vừa < $1 triệu (< $2 triệu đối với một số quốc gia tiên tiến) Nguồn: Tổng hợp từ World Bank, năm 2014 Ngoài ra, tại mỗi quốc gia có nền kinh khác nhau, theo từng giai đoạn phát triển kinh tế thì quan niệm về DNVVN cũng khác nhau. Chẳng hạn tại các quốc gia thuộc khối Liên minh Châu Âu, DNVVN là những doanh nghiệp có số lượng nhân viên dưới 250 người và doanh thu hàng năm là nhỏ hơn 50 triệu euro. Còn tại Châu Mĩ, cụ thể là nước Mĩ thì DNVVN là những doanh nghiệp có số lượng người lao động dưới 500 người (cho phần lớn hoạt động sản xuất và khai thác) và có doanh thu hàng năm là dưới 7 triệu đô la đối với đa số các ngành không liên quan tới sản xuất (dao động tới mức tối đa là 35.
Tại Việt Nam, theo quy định tại khoản 1 điều 3 Nghị định số 56/2009/NĐ-CP, Doanh nghiệp nhỏ và vừa là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật, được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu tiên), cụ thể như sau: 4 Bảng 1.2 Phân loại doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam theo Nghị định số 56/2009 Quy mô Doanh nghiệp Doanh nghiệp nhỏ Doanh nghiệp vừa siêu nhỏ Tổng nguồn Tổng nguồn Khu vực Số lao động Số lao động Số lao động vốn vốn Từ trên 10 Từ trên 20 tỷ Từ trên 200 I. Nông, lâm nghiệp 10 người trở 20 tỷ đồng trở người đến đồng đến 100 người đến và thủy sản xuống xuống 200 người tỷ đồng 300 người Từ trên 10 Từ trên 20 tỷ Từ trên 200 II. Công nghiệp và 10 người trở 20 tỷ đồng trở người đến đồng đến 100 người đến xây dựng xuống xuống 200 người tỷ đồng 300 người Từ trên 10 Từ trên 10 tỷ Từ trên 50 III. Thƣơng mại và 10 người trở 10 tỷ đồng trở người đến 50 đồng đến 50 người đến dịch vụ xuống xuống người tỷ đồng 100 người 1.
Đặc điểm của doanh nghiệp vừa và nhỏ trong nền kinh tế Ngoài những đặc điểm cơ bản của một doanh nghệp trong nền kinh tế DNVVN còn có những đặc điểm cơ bản sau: Thứ nhất, Loại hình doanh nghiệp và ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh của các DNVVN rất đa dạng và phong phú. Ở nước ta các DNVVN được tổ chức dưới nhiều hình thức pháp lý như: Hộ kinh doanh cá thể; Tổ hợp tác; Doanh nghiệp tư nhân; Công ty Cổ phần; Công ty Trách nhiệm hữu hạn; Công ty Hợp danh; Công ty Liên doanh, Liên kết,.trên nhiều lĩnh vực, ngành nghề khác nhau. Sự đa dạng này mang lại nhiều sự khác biệt riêng về vốn hoạt động, công tác quản lý, tổ chức kinh doanh của các DNVVN. Thứ hai, DNVVN có quy mô hoạt động sản xuất kinh doanh và tiềm lực tài chính nhỏ, lực lượng lao động nhiều và trình độ thấp.
Với lượng vốn đầu tư không quá 20 tỷ đồng và số lượng lao động tối đa là 300 người thì quy mô của doanh nghiệp là tương đối nhỏ. Điều này mang lại cho doanh nghiệp lợi thế như khả năng dễ thành lập, dễ gia nhập thị trường, khả năng thu hồi vốn nhanh, dễ dàng thay đổi loại hình kinh doanh để thích ứng với những thay đổi của thị trường. Lợi thế này đã tạo điều kiện cho DNVVn phát triển trên nhiều ngành nghề, trên nhiều địa bàn, lấp vào các khoảng trống mà các doanh nghiệp lớn để lại. Tuy nhiên, đặc điểm này cũng thể hiện sự hạn chế của DNVVN trong khả năng tiến hành đầu tư vào mặt bằng, nhà xưởng, máy móc thiết bị và nguyên vật liệu.
Hơn nữa, quy mô nhỏ và vấn đề thông tin không minh bạch gây khó khăn trong việc tiếp cận vốn với các nhà đầu tư để huy động vốn từ các ngân hang 5 cũng như trên thị trường chứng khoán, Vì vậy, các DNVVN phụ thuộc nhiều vào nguồn vốn phi chính thức, chiếm dụng từ đố tác và lợi nhuận giữ lại. Việc tiếp cận nguồn vốn tín dụng từ các ngân hàng không phải lúc nào cũng đáp ứng được nhu cầu của các doanh nghiệp do hạn chế về thủ tục vay vốn đối với ngân hàng, phương án sản xuất kinh doanh chưa hoàn thiện, tài sản đảm bảo chưa đáp ứng các tiêu chuẩn của ngân hàng,… DNVVN sử dụng nhiều lao động thường là lao động bản địa với trình độ thấp, chủ yếu là lao động chân tay, điều này mang lại cho doanh nghiệp lợi thế về chi phí nhân công thấp nhưng hiệu quả lao động lại không cao. Do điều kiện làm việc cũng như các chế độ dành cho lao động không hấp dẫn nên khó khan trong việc thu hút các lao động có tay nghề cao. Thứ ba, Chiến lược sản xuất kinh doanh, trình độ khoa học kỹ thuật và năng lực cạnh tranh hạn chế.
Do đặc điểm kinh doanh với quy mô nhỏ, chu kỳ tương đối ngắn chủ yếu theo mùa vụ tùy theo mục tiêu của doanh nghiệp mà đa phần các DNVVN thường chỉ xây dựng các kế hoạch sản xuất kinh doanh mang tính tạm thời, ngắn hạn, đáp ứng nhu cầu biến động của thị trường. Do đó, DNVVN có xu hướng đi chệch khỏi sứ mệnh và mục tiêu ban đầu và thiếu đi sự điều chỉnh kịp thời và hợp lý. Cũng do đặc điểm quy mô nhỏ mà DNVVN thường yêu cầu công nghệ không quá cao, không chú trọng vào đầu tư khoa học kỹ thuật thường xuyên để nâng cao chất lượng sản phẩm, dịch vụ, tiết kiệm chi phí tạo nên năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Vì vậy nên các DNVVN thường rơi vào tình trạng công nghệ lạc hậu, trình độ quản lý yếu kém,chi phí sản xuất cao, thiếu kinh nghiệm và trình độ trong nắm bắt thông tin thị trường cũng như maketing sản phẩm dịch vụ.
Thứ tư, Bộ máy điều hành gọn nhẹ, hiệu quả, có tính linh hoạt cao nhưng năng lực quản trị chưa cao. Với một bộ máy quản lý gọn nhẹ, có tính linh hoạt cao, DNVVN đã tạo nên lợi thế trong việc tiết kiệm chi phí hành chính, chi phí quản lý và tăng doanh thu. Bên cạnh đó,với số lượng lao động không nhiều dễ dành tổ chức sắp xếp, cơ cấu tổ chức cũng như bộ máy quản lý gọn nhẹ, không có nhiều khâu trung gian sẽ làm tăng hiệu quả hoạt dộng của doanh nghiệp: Viêc ra các quyết định, các chỉ tiêu đến với người lao động một cách nhanh chóng. Tuy nhiên, bộ máy lãnh đạo với trình độ chuyên môn và quản lý còn hạn chế, thiếu những kiến thức cơ bản về tài chính, luật pháp, quản trị kinh doanh,…trong trường hợp khi phải đưa ra các quyết định nhanh chóng kết hợp với thiếu nghiên cứu tình hình thị trường dẫn đến những quyết định thiếu tính chuẩn xác gây hậu quả nghiêm trọng.
Thứ năm, Hoạt động của DNVVN phụ thuộc nhiều vào biến động của môi trường kinh doanh. Các DNVVN chủ yếu là phục vụ các doanh nghiệp lớn như làm cung cấp nguyên vât liệu, làm đại lý bán hàng. Do đó, còn tồn tại những rủi ro làm 6 cho hoạt dộng kinh doanh của các doanh nghiệp này trở nên bấp bênh, cạnh tranh gay gắt.