Chương 1, Cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triễn doanh nghiệp nhỏ và vừa. Chương 2, Thực trạng phát triển DNNVV trên địa bàn tỉnh Savannakhet. Chương 3, Quan điểm và giải pháp phát triển DNNVV trên địa bàn tỉnh Savannakhet. 7 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA 1.
Một số khái niệm về doanh nghiệp nhỏ và vừa. Doanh nghiệp nhỏ và vừa (khái niệm và phân loại; vai trò và tiêu chí). Khái niệm và phân loại DNNVV. Ở mỗi nước khác nhau thì quan niệm về DNNVV cũng khác nhau.
Ở Việt Nam thì DNNVV được định nghĩa là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật, được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu tiên) (Điều 3, Nghị định số56/2009/NĐ-CP). Căn cứ vào thành phần KT chia ra là DNNVV tư nhân, DNNVV quốc doanh và DNNVV nước ngoài. Trong thực tế, phần lớn các nước đều sử dụng hai tiêu thức vốn điều lệ và số lao động thường xuyên để xác định DNNVV. Chúng ta có thể thấy rõ tiêu thức phân loại của các nước thông qua bảng sau đây: Bảng 1.
Tiêu thức xác định DNNVV tại một số quốc gia. STT Quốc gia Số lao động Tổng vốn Doanh thu 1 Thái Lan < 100 người < 20 triệu Baht 2 Indonexia < 100 người < 0,6 tỷ Rupi < 2 tỷ tỷ Rupi 3 Hàn Quốc 3.1 DN công nghiệp – xây dựng < 300 người < 0,6 triệu USD 3.2 DN thương mại dịch vụ < 200 người < 0,25 triệu USD < 1,4 triệu USD 4 Đài Loan 4.1 DN công nghiệp – xây dựng < 300 người < 1,4 triệu USD 4.2 DN thương mại dịch vụ < 50 người < 1,4 triệu USD 5 Nhật Bản 5.1 Bán buôn < 100 người < 30 triệu Yên 5.2 Bán lẻ < 50 người < 10 triệu Yên 6 Việt Nam < 300 người < 10 tỷ VND Nguồn: Trang web Ngân hàng thế giới, World Bank, 2015. 8 Mặc dù khái niệm DNNVV đã được biết đến trên thế giới từ những năm đầu của thế kỷ X, và khu vực DNNVV được các nước quan tâm phát triển từ. Trong cơ chế bao cấp, các doanh nghiệp nhà nước được chia thành doanh nghiệp loại 1, doanh nghiệp loại 2, doanh nghiệp loại 3 với tiêu chí phân loại chủ yếu là số lao động trong biên chế và theo phân cấp Trung ương - địa phương.
Trong đó, doanh nghiệp nhỏ và vừa gần như tương ứng với doanh nghiệp loại 2 và loại 3. Bộ công nghiệp và thủ CN Lào (Ministry of Industry and Handicraft – MIH) vào năm 1996 đã đưa ra một định nghĩa định lượng để phân loại quy mô của các doanh nghiệp như sau: Doanh nghiệp nhỏ là doanh nghiệp có từ 1 đến 9 công nhân, doanh nghiệp vừa là doanh nghiệp có từ 9 đến 29 công nhân, doanh nghiệp lớn là doanh nghiệp có trên 29 công nhân. Năm 2000, trung tâm thống kê quốc gia Lào đã định nghĩa lại như sau: DN nhỏ có từ 1 đến 9 công nhân, doanh nghiệp vừa có từ 9 đến 99 công nhân, doanh nghiệp lớn có từ 99 công nhân trở lên. Theo văn phòng Thủ tướng chính phủ năm 2010 thì: Các doanh nghiệp vừa & nhỏ là các doanh nghiệp độc lập được thành lập theo pháp luật và hoạt động tuân thủ theo đúng quy định của Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào và được phân loại theo tiêu thức sau: - Doanh nghiệp nhỏ là DN có số công nhân không vượt quá 49 người, có tổng tài sản không vượt quá 500 triệu kíp, và doanh thu hàng năm không vượt quá 800 triệu kíp.
- Doanh nghiệp vừa là DN có số công nhân không vượt quá 99 người, có tổng tài sản không vượt quá 2 tỷ kíp và doanh thu hàng năm không vượt quá 5 tỷ kíp. Định nghĩa cũng như tiêu thức của Thủ tướng chính phủ nước CHDCND Lào năm 2010 nêu trên chính là tiêu thức còn hiệu lực đến thời điểm hiện tại. Các tiêu chí về DNNVV ở Lào (lao động và vốn đăng ký) không có quy định định lượng tối thiểu và do đó DNNVV theo định nghĩa của Lào bao gồm cả các doanh nghiệp siêu nhỏ theo cách hiểu của nhiều quốc gia khác. Vai trò của doanh nghiệp nhỏ và vừa đối với nền kinh tế.
Thứ nhất: DNNVV góp phần khai thác tiềm năng thúc đẩy sản xuất hàng hóa đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của xã hội vào tăng trưởng kinh tế của cả nước: DNNVV ngày càng đóng góp nhiều hơn vào tổng GDP của Lào do số lượng doanh nghiệp ngày càng lớn và phân bổ rộng khắp trong hầu hết các ngành, lĩnh vực. DNNVV khai thác tiềm năng các thành phần kinh tế như huy động vốn từ các nguồn lực của xã hội cho tăng trưởng và phát triển kinh tế của đất nước. Các DNNVV có thể đóng góp vào việc phân bổ các ngành công nghiệp đến nhiều khu khác nhau, nhờ đó giảm bớt khoảng cách phát triển giữa các khu vực khác nhau tạo ra sự phát triển cân đối giữa các vùng, miền. Chính sự phát triển của các DNNVV đã góp phần quan trọng trong việc tạo lập sự cân đổi trong việc phát triển giữa các vùng.
Vai trò của DNNVV thể hiện sự đóng góp phát triển kinh tế của quốc gia, thu hút lao động, vốn, tạo ra nhiều sản phẩm đa dạng với giá trị gia tăng, góp phần tăng trưởng kinh tế và là cơ sở trong cấu trúc của nền kinh tế xã hội. Thứ hai: Góp phần làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế: Ngoài việc đóng góp vào tăng trưởng kinh tế, DNNVV còn có vai trò góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Điều này được thể hiện ở các cơ cấu sau: - Cơ cấu thành phần kinh tế: Trong thời gian qua tỷ lệ doanh nghiệp dân doanh trong số các doanh nghiệp đã tăng lên nhanh chóng. Đến năm 2015, khối doanh nghiệp dân doanh có khoảng 8.100 doanh nghiệp và 1.500 hợp tác xã, trong đó có tới 96% là DNNVV.
Ngoài ra còn có khoảng 8.000 hộ kinh doanh cá thể. Các doanh nghiệp dân doanh đã và đang trở thành trụ cột cuả nền kinh tế nhà nước, đưa chủ trương phát triển kinh tế nhiều thành phần đi vào cuộc sống. - Cơ cấu ngành kinh tế: Như đã nêu ở trên, Các DNNVV chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp – xây dựng và dịch vụ, thương mại. Vì các lĩnh vực này dễ dàng tham gia kinh doanh với số vốn ít và yêu cầu trình độ chuyên môn không đòi hỏi cao, khả năng thu hồi vốn nhanh.
Điều này đã góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo 10 hướng nâng dần tỷ trọng giá trị đóng góp vào GDP của ngành công nghiệp và dịch vụ, giảm tỷ trọng giá trị sản phẩm của ngành nông nghiệp trong GDP. - Cơ cấu theo lãnh thổ: Các DNNVV được thành lập ở tất cả mọi nơi trên cả nước, kể cả vùng có điều kiện KT – XH khó khăn. Đây là điểm khác biệt cơ bản so với các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Các DNNVV có thể đóng góp vào việc phân bổ các ngành công nghiệp đến nhiều vùng dân cư khác nhau; từ thành thị, nông thôn đến các vùng miền núi, vùng sâu vùng xa.
Nhờ đó giảm bớt được khoảng cách phát triển giữa các khu vực khác nhau và tạo ra được sự phát triển cân đối giữa các vùng khác nhau trên toàn quốc. Thứ ba: Đóng góp vào ngân sách nhà nước: Nguồn thu ngân sách từ doanh nghiệp NN hiện nay chiếm tỷ trọng lớn, nhưng với tình hình hiện nay để có được nguồn thu này thì nhà nước cũng phải trợ cấp cho các DNNN rất nhiều. Hơn nữa, Lào chính thức là thành viên thứ 158 của WTO, một khi gia nhập WTO thì việc trợ cấp này không thể duy trì, và hệ quả là nguồn thu từ các doanh nghiệp NN sẽ khó được đảm bảo. Ngân sách nhà nước, vì vậy, phục thuộc ngày càng nhiều vào các nguồn thu khác, trong đó đặc biệt quan trọng là từ thuế do các doanh nghiệp dân doanh đóng góp.
Qua số liệu về đóng góp của doanh nghiệp theo Luật Doanh nghiệp vào ngân sách trung ương cũng cho ta thấy phần nào vai trò của khu vực DNNVV, lực lượng chủ yếu trong các doanh nghiệp dân doanh. Mặc dù đóng góp của khu vực DNNVV vào thu ngân sách còn nhỏ, nhưng tỷ lệ này đã tăng đáng kể và đang có xu hướng tăng nhanh trong mấy năm gần đây từ khoảng 6,4% năm 2014 lên hơn 7,2% năm 2015 (Tỷ lệ này của doanh nghiệp FDI là 5,2% và 6%, của DNNN là 21,6 và 23,4%). Thu từ thuế công thương nghiệp và dịch vụ ngoài quốc doanh năm 2015 tăng 13% so với năm 2014. Quý I – 2016, số thu từ doanh nghiệp dân doanh chiếm khoảng 11% tổng số thu, tăng 28,7% so với cùng kỳ và đạt 26,8% chỉ tiêu do Quốc hội Lào đề ra.
Thứ tư: DNNVV góp phần giải quyết việc làm, giảm áp lực về thất nghiệp: 11 Hiện nay, do tỷ lệ tăng dân số cao trong những năm trước đây, hàng năm CHDCND Lào có khoảng 150.000 người gia nhập vào lực lượng lao động. Vấn đề giải quyết việc làm cho những người này là rất cấp thiết. Bên cạnh đó, khu vực doanh nghiệp nhà nước hiện đang thực hiện sắp xếp lại nên không những không thể thu hút thêm lao động mà còn tăng thêm số lao động dôi dư. Khu vực đầu tư nước ngoài mỗi năm cũng chỉ tạo ra khoảng 5.000 chỗ làm mới, một tỷ lệ không đáng kể.
Như vậy phần lớn số người tham gia lực lượng lao động này trông chờ vào khu vực nông thôn và khu vực DNNVV. Các DNNVV đã tạo ra nhiều việc làm mới với tốc độ tăng trưởng cao. Hiện nay, khu vực DNNVV đã tạo ra hơn 50% việc làm cho lao động làm việc trong các doanh nghiệp nói chung. Thứ năm: DNNVV làm đối tác liên kết làm tăng sức mạnh của các doanh nghiệp lớn: Doanh nghiệp lớn có thế mạnh về vốn, công nghệ, quy mô sản xuất kinh doanh, khả năng đáp ứng công nghệ, chương trình lớn về tiếp thị, phát triển thị trường… Nhưng phân công lao động xã hội chỉ có doanh nghiệp lớn thì sẽ không hiệu quả, không phát huy được lợi thế trong liên kết kinh tế để tạo ra sức mạnh cạnh tranh của cả nền kinh tế.