CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA KHU VỰC NGOÀI QUỐC DOANH 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA 1. Khái quát chung về doanh nghiệp 1.
Khái niệm doanh nghiệp Theo Khoản 7 Điều 4 Luật Doanh nghiệp ban hành ngày 27 tháng 11 năm 2014 định nghĩa như sau: “Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh” [24]. Với những quan điểm trên có thể nhận thấy các đặc trưng cơ bản của doanh nghiệp như sau: - Chức năng kinh doanh của doanh nghiệp bao gồm sản xuất sản phẩm hoặc dịch vụ, cung ứng, trao đổi, hợp tác và tiêu thụ sản phẩm nhằm mục tiêu sinh lời. - Mục tiêu của doanh nghiệp là tối đa hóa lợi ích kinh tế, chủ yếu là lợi nhuận. - Phương tiện để đạt lợi nhuận tối đa cho doanh nghiệp là cải tiến sản xuất thỏa mãn lợi ích của người tiêu dùng.
Doanh nghiệp phải tôn trọng quyền lợi của người tiêu dùng. - Doanh nghiệp phải tôn trọng pháp luật và phải thực hiện đầy đủ nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước. Nhà nước bảo hộ quyền lợi chính đáng của doanh nghiệp và tạo môi trường thuận lợi cho các doanh nghiệp hoạt động. - Doanh nghiệp tùy theo khả năng của mình có thể tự nguyện tham gia vào các hoạt động xã hội.
Các loại hình doanh nghiệp Các loại hình doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường rất đa dạng và phong phú. Tùy theo từng cách tiếp cận khác nhau mà người ta có thể chia doanh nghiệp thành các loại khác nhau, trong đó dựa theo quy mô có thể chia doanh nghiệp thành doanh nghiệp lớn và DNNVV. 7 Việc quy định thế nào là doanh nghiệp lớn, thế nào là DNNVV là tùy thuộc vào điều kiện kinh tế xã hội cụ thể của từng quốc gia và nó cũng thay đổi theo từng thời kỳ, từng giai đoạn phát triển kinh tế. Trên cơ sở đó mỗi nước lại chọn cho mình những tiêu chí khác nhau để phân chia doanh nghiệp thành doanh nghiệp lớn và DNNVV cho phù hợp với sự tăng trưởng và phát triển kinh tế của đất nước trong từng thời kỳ, từng giai đoạn của nền kinh tế.
Theo Luật Doanh nghiệp năm 2014 quy định năm loại hình doanh nghiệp hoạt động tại Việt Nam, đó là: Tập thể; doanh nghiệp tư nhân; Công ty trách nhiệm hữu hạn; công ty cổ phần; công ty hợp danh [24]. Cơ cấu doanh nghiệp theo thành phần kinh tế Ở Việt Nam hiện tồn tại 5 thành phần kinh tế bao gồm: Kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế tư nhân, kinh tế cá thể, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Căn cứ vào 5 thành phần kinh tế này người ta chia thành các loại hình doanh nghiệp sau đây: doanh nghiệp nhà nước; doanh nghiệp ngoài nhà nước; doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. - Doanh nghiệp nhà nước: Là tổ chức kinh tế do Nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ hoặc có cổ phần, vốn góp chi phối, được tổ chức dưới hình thức công ty nhà nước, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn.
Tuy nhiên, trong khi các công ty tư nhân chỉ phải tối đa hóa lợi nhuận cho cổ đông, doanh nghiệp Nhà nước thường phải gồng gánh một số trách nhiệm xã hội, hoạt động vì lợi ích của người dân, được thành lập để đối phó với những thất bại của thị trường. Điều đó dẫn đến việc các Doanh nghiệp Nhà nước không hướng đến và cũng không cần cố gắng tối đa hóa lợi nhuận như các công ty tư nhân [21]. - Doanh nghiệp ngoài nhà nước: Gồm các doanh nghiệp vốn trong nước, mà nguồn vốn thuộc sở hữu tập thể, tư nhân một người hoặc nhóm người, hoặc có sở hữu Nhà nước nhưng chiếm dưới 50% vốn điều lệ trở xuống. Khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước gồm: các hợp tác xã; các doanh nghiệp tư nhân; các công ty hợp danh; các công ty trách nhiệm hữu hạn tư nhân; các công ty cổ phần không có vốn nhà nước; các công ty cổ phần có tỷ lệ vốn nhà nước từ 50% vốn điều lệ trở xuống nhân [28].
8 - Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI): Gồm các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài, không phân biệt tỷ lệ vốn của bên nước ngoài góp là bao nhiêu. Khu vực này gồm hai loại hình chủ yếu là doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài và doanh nghiệp liên doanh giữa nước ngoài với các đối tác trong nước. Khái niệm và tiêu chí xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa 1. Khái niệm doanh nghiệp nhỏ và vừa Theo từ điển Bách khoa toàn thư: DNNVV là những doanh nghiệp có quy mô nhỏ bé về mặt vốn, lao động hay doanh thu.
DNNVV là những cơ sở sản xuất kinh doanh vì mục đích lợi nhuận, có quy mô doanh nghiệp trong những giới hạn nhất định theo các tiêu thức vốn, lao động, doanh thu, giá trị thu được trong từng thời kỳ theo quy định của từng quốc gia. Ở Việt Nam, ngày 30 tháng 6 năm 2009, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 56/2009/NĐ-CP về trợ giúp phát triển DNNVV. Nghị định đã đưa ra một định nghĩa chung về DNNVV để các ban ngành, địa phương, các tổ chức trong và ngoài nước có căn cứ xác định đối tượng thực hiện chính sách và các biện pháp trợ giúp DNNVV phát triển. Theo đó: DNNVV là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật, được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn hoặc số lao động bình quân năm [5].
Tiêu chí xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa Theo tiêu chí của Ngân hàng Thế giới, DN siêu nhỏ là DN có số lượng lao động dưới 10 người, DN nhỏ có số lượng lao động từ 10 đến dưới 50 người, còn DN vừa có từ 50 đến 300 lao động. Ở mỗi nước, người ta có tiêu chí riêng để xác định DNNVV. Ở Việt Nam, nhìn chung đều dựa vào hai tiêu chí chủ yếu là số lượng lao động và tổng vốn đầu tư để xác định loại hình DNNVV. Nhưng ở mỗi nước, mức độ định lượng rất khác nhau.
Tiêu chí phân loại DNNVV ở một số quốc gia được trình bày ở bảng sau. Tiêu chí phân loại DNNVV ở một số quốc gia Số lao động Quốc gia Phân loại Vốn đầu tư Doanh thu bình quân Mỹ Tất cả các ngành ≤ 500 - - Chế tác ≤ 300 < 300 triệu yên - Bán buôn ≤ 100 ≤ 100 triệu yên - Nhật Bản Bán lẻ ≤ 50 ≤ 50 triệu yên Dịch vụ ≤ 100 ≤ 100 triệu yên - Doanh nghiệp cực nhỏ < 10 - EU Doanh nghiệp nhỏ <0 - 7 triệu ero Doanh nghiệp vừa < 250 - 40 triệu ero Sản xuất nhỏ - ≤ 50 triệu bạt - Sản xuất vừa - 50-200 triệu bạt - Buôn bán nhỏ - ≤ 50 triệu bạt - Thái Lan Buôn bán vừa - 50-100 triệu bạt - Bán lẻ nhỏ - ≤ 30 triệu bạt Bán lẻ vừa - 50-60 triệu bạt Singapore - < 100 < 1,2 triệu đô la - Nguồn: APEC 1998, UN/EEC 1999 và OECD 2000 Ở Việt Nam, sự hình thành quan niệm và cách phân loại DNNVV cũng rất khác nhau qua các thời kỳ phát triển của đất nước. Trước năm 1998, Nhà nước chưa có văn bản pháp luật nào quy định tiêu chí cụ thể về DNNVV. Do đó, mỗi tổ chức, mỗi địa phương đưa ra một quan niệm khác nhau về DNNVV, nhằm định hướng mục tiêu và đối tượng hỗ trợ của tổ chức, địa phương mình, chẳng hạn: - Ngân hàng Công thương đưa ra tiêu chí DNNVV là những doanh nghiệp có giá trị tài sản cố định dưới 10 tỷ đồng, vốn lưu động dưới 8 tỷ đồng, doanh thu dưới 8 tỷ đồng và số lao động thường xuyên dưới 500 người [5].
- Tổ chức phát triển công nghiệp của Liên hợp quốc (UNIDO) tại Việt Nam lại đưa ra tiêu thức xác định DNNVV dựa trên mục tiêu hỗ trợ: Doanh nghiệp nhỏ là doanh nghiệp có ít hơn 50 lao động, tổng số vốn và doanh thu ít hơn 1 tỷ đồng; doanh nghiệp vừa là doanh nghiệp có số lao động thường xuyên từ 51 đến 200 người, tổng số vốn và doanh thu từ 1 tỷ đến 5 tỷ đồng. Hiện nay, Nghị định số 56/2009/NĐ-CP ngày 30 tháng 6 năm 2009 của Chính phủ, quy định DNNVV ở nước ta gồm: Doanh nghiệp Nhà nước; Doanh 10 nghiệp ngoài Nhà nước: Hợp tác xã; Doanh nghiệp tư nhân; Công ty hợp danh; Công ty trách nhiệm hữu hạn tư nhân; Công ty cổ phần không có vốn nhà nước; Công ty cổ phần có vốn nhà nước dưới hoặc bằng 50%; Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Tiêu chí xác định Doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Việt Nam được trình bày ở bảng sau. Tiêu chí xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Việt Nam DN siêu DN nhỏ DN vừa nhỏ Ngành nghề Số lao Tổng Số Tổng Số động nguồn vốn lao động nguồn vốn lao động (người) (tỷ đồng) (người) (tỷ đồng) (người) 1.
Nông, lâm nghiệp và thủy sản ≤ 10 ≤ 20 11 - 200 > 20 - 100 > 200 - 300 2. Công nghiệp và xây dựng ≤ 10 ≤ 20 11 - 200 > 20 - 100 > 200 - 300 3. Thương mại và dịch vụ ≤ 10 ≤ 10 11-50 > 10 - 50 > 50 - 100 Nguồn: Nghị định 56/2009/NĐ-CP Theo cách phân loại này, số lượng DNNVV chiếm 97,0% tổng số doanh nghiệp hiện có tại Việt Nam. Trung bình mỗi năm DNNVV đã tạo thêm khoảng nửa triệu lao động mới, sử dụng tới 51% lao động xã hội và đóng góp trên 40% GDP cho nền kinh tế [5].
Vai trò của doanh nghiệp nhỏ và vừa trong phát triển kinh tế - xã hội 1. Đóng vai trò quan trọng trong thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Ở hầu hết các nền kinh tế, các DNNVV là những nhà thầu phụ cho các doanh nghiệp lớn. Sự điều chỉnh hợp đồng thầu phụ tại các thời điểm cho phép nền kinh tế có được sự ổn định. Vì vậy, DNNVV được xem như thanh giảm sốc cho nền kinh tế trước những biến động lớn.
Với lợi thế về vốn đầu tư ít và nguồn lao động dồi dào, trong những năm qua, DNNVV phát triển ngày càng nhanh và chiếm tỉ trọng ngày càng lớn trong tổng số doanh nghiệp. DNNVV cung cấp cho thị trường nhiều mặt hàng phong phú, đa dạng ở tất cả các lĩnh vực của nền kinh tế, tạo ra nhiều sự lựa chọn, đáp ứng được mọi nhu cầu của người tiêu dùng, từ đó thúc đẩy sức tiêu thụ của nền kinh tế.