Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN CỦA PHÁP LUẬT VỀ THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA. Những vấn đề lý luận về thuế thu nhập doanh nghiệp 1. Khái niệm doanh nghiệp vừa và nhỏ: 1. Tiêu chí xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa DNNVV đã và đang trở thành một bộ phận quan trọng trong nền kinh tế Việt Nam.
Khu vực DNNVV huy động các nguồn lực xã hội cho đầu tư phát triển và đóng góp vào ngân sách nhà nước (NSNN) rất hiệu quả, thúc đẩy phát triển kinh tế mỗi quốc gia, nhất là khu vực kinh tế diễn ra các hoạt động đổi mới sáng tạo và ứng dụng sản phẩm sáng tạo đó trong sản xuất, kinh doanh. DNNVV là loại DN phổ biến ở hầu hết các quốc gia trên thế giới, nói đến DNNVV là nói đến quy mô của doanh nghiệp. DNNVV là những doanh nghiệp có quy mô vừa, nhỏ và siêu nhỏ; thường thể hiện thông qua một số các đặc trưng: Tổng vốn, số lượng lao động, doanh thu, chuyên môn… Đối với mỗi một nước, các tiêu chí về DNNVV sẽ khác nhau, việc đưa ra các tiêu chí cần phải dựa trên nhiều yếu tố: Trình độ phát triển kinh tế của mỗi quốc gia, vùng lãnh thổ, tính chất ngành nghề… sao cho phù hợp với từng loại DN giúp DN có thể được hưởng các chính sách hỗ trợ thoả đáng và hoạt động có hiệu quả. Chẳng hạn ở Nhật, tiêu chí xác định DNNVV theo 3 ngành: sản xuất, thương mại và dịch vụ và mỗi ngành lại có số vốn đầu tư và số lao động khác nhau, Ở Mỹ, tiêu chí xác định DNNVV là doanh nghiệp có số lao động bình quân không quá 500 người.
Ngày 12/6/2017 Quốc Hội Việt Nam đã thông qua Luật hỗ trợ DNNVV, có hiệu lực từ ngày 1/1/2018. Đây được coi là bước đầu trong việc hoàn thiện hành lang pháp lý cho DNNVV ở Việt Nam nhằm khắc phục những hạn chế của loại hình doanh nghiệp này. Sự ra đời của đạo luật này sẽ giúp các DNNVV phát huy được vai trò của mình, hoạt động có hiệu quả và đóng góp thiết thực cho việc tăng trưởng kinh tế cũng như lợi ích tổng thể của xã hội. 8 Hiện nay, theo Luật hỗ trợ DNNVV năm 2017 và Nghị định số 39/2018/NĐ-CP thì không đưa ra định nghĩa thế nào là DNNVV mà chỉ đưa ra tiêu chí xác định DNNVV.
Theo đó DNNVV được hiểu là doanh nghiệp có quy mô nhỏ, quy mô này chủ yếu dựa vào tiêu chí về số lượng lao động, vốn, doanh thu. bao gồm doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ, doanh nghiệp vừa: Quy mô Doanh nghiệp vừa Doanh nghiệp nhỏ Doanh nghiệp siêu nhỏ Tổng Tổng Tổng Tổng Tổng Tổng nguồn doanh nguồn doanh nguồn Số lao Số lao Số lao doanh thu vốn thu vốn thu vốn động động động (đơn vị tỷ (đơn vị tỷ (đơn vị (đơn vị (đơn vị (đơn vị Khu vực đồng) đồng) tỷ đồng) tỷ đồng) tỷ đồng) tỷ đồng) I. Nông, từ trên lâm từ trên 100 từ trên từ trên từ trên từ trên 10 người nghiệp,thủy 10 người 03 trở người 50 đến 20 đến 03 đến 03 đến trở 03 trở xuống sản và công đến 100 xuống đến 200 200 100 50 20 xuống nghiệp, xây người người dựng từ trên từ trên từ trên từ trên II. Thương 50 từ trên từ trên 10 tỷ 03 tỷ 10 người 10 người 10 trở mại và dịch người 100 đến 50 đến đồng đến đồng đến trở 03 trở xuống đến 50 xuống vụ đến 100 300 100 100 tỷ 50 tỷ xuống người người đồng đồng Hiện nay, Luật đã bổ sung thêm tiêu để xác định DNNVV, kết hợp với bảng phân loại cho thấy DNNVV được phân chia dựa theo các tiêu chí: Quy mô về vốn; doanh thu; Quy mô về số lao động và khu vực kinh doanh.
Như vậy, khác với trước đây, ngoài tiêu chí về quy mô vốn, Luật còn quy định thêm tiêu chí doanh thu để xác định; điều này giúp việc đánh giá sát thực hơn đối với quy mô của doanh nghiệp. Đồng thời việc thay đổi tiêu chí số lao động bình quân năm bằng tiêu chí số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm sẽ giúp cho cơ quan chức năng có thể dễ dàng kiểm tra, giám sát nhờ có thêm thông tin từ cơ quan bảo hiểm tránh hiện tượng nhiều doanh nghiệp đã lớn nhưng vẫn nhận mình là DNNVV để hưởng các chính sách hỗ trợ. 9 Trên cơ sở các tiêu chí xác định DNNVV, có thể thấy DNNVV có một số đặc điểm sau: - Tính chất hoạt động kinh doanh: DNNVV do quy mô nhỏ, ít vốn nên thường tập trung kinh doanh chủ yếu vào những lĩnh vực phục vụ trực tiếp đời sống, những sản phẩm có sức mua cao. DNNVV vốn đầu tư ít nên việc thành lập dễ dàng và khả năng thu hồi vốn nhanh.
Hoạt động kinh doanh của DNNVV rất đa dạng phòng phú và có tính linh hoạt trước những thay đổi của thị trường. Đặc biệt là khả năng đáp ứng nhu cầu nhỏ lẻ có tính địa phương. Khi thị trường biến động thì các DNNVV cũng dễ dàng thay đổi mặt hàng hoặc chuyển hướng sản xuất kinh doanh - Về nguồn lực vốn: Các DNNVV nhìn chung đều bị hạn chế về nguồn vốn, đất đai và công nghệ, ít có cơ hội tiếp cận với nguồn vốn lớn điều này dẫn đến nhiều hạn chế khác cho doanh nghiệp như: không có vốn để đổi mới trang thiết bị cũng như kế hoạch dài hạn cho sự phát triển của doanh nghiệp. Để hoạt động trong thị trường, các doanh nghiệp này chủ yếu tập trung vào các ngành hàng gần gũi với nhu cầu tiêu dùng, chưa có sự khác biệt về đầu tư kỹ thuật công nghệ cũng như tạo ra những sản phẩm có thương hiệu mạnh.
Điều này làm cho khả năng tiếp cận thị trường còn thấp đặc biệt là thị trường nước ngoài - Về tổ chức, quản lý điều hành: DNNVV có tổ chức quản lý đơn giản, linh hoạt gọn nhẹ, chủ yếu thực thiện chức năng kế toán mà chức năng quản trị khác chưa được chú trọng. Sự chuyên môn hoá không cao, chưa có sự phân công rõ ràng, các quyết định quản lý được thực hiện nhanh, chủ yếu do chủ doanh nghiệp kiểm tra điều hành trực tiếp. - Về tay nghề của người lao động: số lượng và chất lượng lao động trong DNNVV thấp, chưa đáp ứng được với nhu cầu, đòi hỏi hoạt động sản xuất, kinh doanh của nhóm DN này. Việc tuyển chọn sử dụng lao động trong các DN hiện nay hầu hết dựa trên những tiêu chí phổ thông hoặc không cần tiêu chí.
Đội ngũ công nhân làm việc nhiều năm cũng không được nâng cao tay nghề vì chính sách của các doanh nghiệp không tập trung vào những đối tượng lao động này. Vai trò của doanh nghiệp nhỏ và vừa với nền kinh tế Trên thực tế, các DN luôn chiếm vị trí đặc biệt quan trọng trong nền kinh tế, DN chính là bộ phận chủ yếu tạo ra tổng sản phẩm trong nước, thực thể này đóng vai trò to lớn trong việc quyết định sự phát triển bền vững về kinh tế và xã hội. Ở Việt Nam hiện nay, loại hình DN chiếm số lượng chủ yếu chính là DNNVV. Do đó, ngay từ sau Đại hội Đảng lần thứ VI, Đảng ta đã nhận thấy DNNVV có sự đóng góp rất lớn vào quá trình phát triển, tăng trưởng kinh tế.
Trong Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII, Đảng đã đưa ra định hướng: “…phát triển các loại hình DN quy mô vừa và nhỏ là chính, với công nghệ thích hợp, vốn đầu tư ít, tạo nhiều việc làm…”[7]. Vị trí, vai trò của DNNVV vẫn luôn được khẳng định trong chủ trương, đường lối phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, được Đảng và Nhà nước đặc biệt quan tâm và chỉ đạo quán triệt đến các cơ quan có thẩm quyền để hỗ trợ DNNVV phát triển tạo ra sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế. Do đó, trong chiến lược phát triển hàng năm và năm năm, Chính phủ đều quan tâm, coi hỗ trợ phát triển DNNVV là một nhiệm vụ. Tiếp tục qua các kỳ đại hội của Đảng, tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X, một trong những chủ trương của Đảng trong giai đoạn phát triển kinh tế - xã hội từ 2006-2010 là “.
Nhà nước định hướng, tạo môi trường để các DN phát triển và hoạt động có hiệu quả theo cơ chế thị trường. Hỗ trợ sự phát triển DNNVV. Thực hiện chính sách ưu đãi hoặc hỗ trợ có điều kiện, có thời hạn đối với một số ngành, một số sản phẩm quan trọng, thiết yếu, một số mục tiêu, một số địa bàn, doanh nghiệp nhỏ và vừa. Nghị quyết hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XII họp ngày 3/6/2017 đã đề ra một số nhiệm vụ, giải pháp theo đó tiếp tục hoàn thiện thể chế phát triển các thành phần kinh tế, các loại hình DN trong đó tạo thuận lợi phát triển khu vực kinh tế tư nhân thực sự trở thành động lực quan trọng của nền kinh tế đồng thời hoàn thiện chính sách hỗ trợ phát triển DNNVV.
Trên cơ sở đó Chính Phủ đã ban hành chương trình hành động thực hiện Nghị quyết 11/NQ/TW ngày 3/6/2017 Hội nghị lần thứ năm ban chấp hành Trung ương đảng khoá XII về hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Theo đó, Chính phủ đã giao cho Bộ kế hoạch và Đầu tư chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành liên quan ban hành các văn bản qui phạm pháp luật hướng dẫn Luật Hỗ trợ DNNVV năm 2017; xây dựng chính sách hỗ trợ các DN tiếp cận nguồn vốn, đào tạo nguồn nhân lực, chuyển giao công nghệ, hỗ 11 trợ phát triển thị trường.Vai trò và tầm quan trọng của DNNVV đối với nền kinh tế được thể hiện ở một số điểm sau: Thứ nhất, DNNVV góp phần ổn định và phát triển kinh tế Ở phần lớn các quốc gia thì các DNNVV thường làm vệ tinh cho các DN lớn và là tiền đề cho việc hình thành các DN lớn. Họ là những nhà thầu phụ cho các DN lớn. Các DNNVV dễ dàng tham gia vào chuỗi cung ứng trong ngành công nghiệp lớn với tư cách là người cung cấp nguyên vật liệu đầu vào, cung cấp dịch vụ hoặc là trung gian tiêu thụ sản phẩm đầu ra…Các DNNVV nhận đặt hàng từ các doanh nghiệp lớn cho các linh kiện hay một lĩnh vực nhất định trong một khâu mắt xích nào đó để làm nên một sản phẩm.
Do là nhà thầu phụ nên các DNNVV dễ dàng chuyển sang lĩnh vực sản xuất khác khi thị trường có sự thay đổi. Điều đó giúp cho nền kinh tế được ổn định, không bị xáo trộn.