CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 1. Bối cảnh nghiên cứu Thuế là một khái niệm xuất hiện từ rất lâu đời. Quá trình hình thành và phát triển của thuế bắt đầu từ thời nhà nước chiếm hữu nô lệ cho đến nay.
Từ thời xưa, thuế xuất hiện dưới hình thức các khoản thu bằng hiện vật và cùng với sự phát triển của xã hội, thuế cũng dần dần chuyển sang hình thức tiền tệ. Đó là những khoản đóng góp bắt buộc, có giới hạn cho Chính phủ (Phan Hiển Minh và cộng sự 2001). Các khoản thuế đã nộp sẽ được hoàn trả tương ứng bằng những lợi ích do Chính phủ mang lại với hình thức đặc biệt (Organization for Economic Cooperation and Development – OECD 1996). Kể từ khi thuế ra đời thì nghĩa vụ của người nộp thuế cũng được hình thành.
Ở các nước, Chính phủ đều xây dựng những quy định và ban hành các chính sách pháp luật về thuế để quản lý thu thuế nhằm điều tiết nền kinh tế vĩ mô. Theo Noor và cộng sự (2013), Chính phủ ngày càng quan tâm nhiều hơn về vấn đề không tuân thủ thuế, trốn thuế vì các hoạt động này làm giảm nỗ lực tăng thu ngân sách của quốc gia. Việc không tuân thủ thuế xảy ra khi người nộp thuế không khai báo đúng nghĩa vụ thuế theo quy định làm giảm số thuế phải nộp gây thất thu ngân sách Nhà nước (NSNN) (Franzoni 1998; Lewis và cộng sự 2009). Theo Halon và cộng sự (2005), nghiên cứu về không tuân thủ thuế là vấn đề rất quan trọng vì nó có ảnh hưởng đến sự vận hành của hệ thống thuế ở mỗi nước và có thể làm thay đổi sự phân phối lại gánh nặng về thuế theo quy định của Luật thuế đã ban hành.
Từ những năm 1990, công trình của Kamdar (1997) đã nghiên cứu tác động của các yếu tố về chính sách có ảnh hưởng đến sự không tuân thủ thuế tại Mỹ trong giai đoạn 1961-1987. Mô hình các yếu tố tác động đến sự tuân thủ thuế của doanh nghiệp vừa và nhỏ cũng được thực hiện bởi các nghiên cứu như: Rice (1992); Mill (1996); Joulfaian và Rider (1998). Bên cạnh đó, công trình khoa học của Nurtegin (2008) tại Mỹ còn nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến gian lận thuế của doanh nghiệp với dữ liệu của 23 quốc gia trên thế giới. Nghiên cứu của Singh (2003) nhận 2 định rằng không tuân thủ thuế ở doanh nghiệp xảy ra khi xuất hiện các vi phạm về Luật thuế dẫn đến việc khai thiếu thu nhập chịu thuế.
Theo thống kê của Cục dự trữ liên bang, số thuế trốn ở các doanh nghiệp tại Hoa Kỳ hàng năm tăng lên đến hàng tỷ đô la (Liowsky 2010) khiến các nhà khoa học nước này đã thực hiện khá nhiều nghiên cứu về thực trạng không tuân thủ thuế. Theo thống kê của Cục dự trữ liên bang Mỹ, khoản tiền chênh lệch thuế được phát hiện trong quá trình khai thuế của doanh nghiệp được ước tính khoảng 450 USD trong năm tính thuế 2006; trong đó, số thuế thu được qua việc sử dụng các biện pháp thu hồi là 385 USD và cơ quan chức năng phải nỗ lực rất nhiều để làm giảm thực trạng này bởi tỷ lệ người nộp thuế tự nguyện tuân thủ hầu như rất thấp trong suốt hơn ba thập kỷ qua (Gao 2012). Vì vậy, các công trình khoa học tại Mỹ đã nghiên cứu khá nhiều về sự tuân thủ của người nộp thuế; về bản chất của vấn đề không tuân thủ và những chiến lược nhằm giảm bớt việc kê khai thuế có sai lệch. Không chỉ ở Mỹ, không tuân thủ thuế còn là nội dung được các nhà khoa học ở những nước khác rất quan tâm khai thác và nghiên cứu.
Noor và cộng sự (2012) nghiên cứu về các yếu tố tài chính ảnh hưởng đến gian lận thuế thu nhập của doanh nghiệp tại Malaysia; Tedds (2010) đã thực hiện cuộc điều tra khảo sát để kết luận các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi không khai báo thuế, gian lận thuế của doanh nghiệp tại Canada. Tại Nigeria, sự không tuân thủ thuế cũng là một vấn đề khá nghiêm trọng, cản trở hiệu quả thu thuế của quốc gia. Alabede và cộng sự (2011) đã nghiên cứu các yếu tố của hành vi tuân thủ thuế và nêu lên thực trạng tại Nigeria, mặc dù khá nhiều cải cách đã được Chính phủ thực hiện để tăng doanh thu thuế nhưng sự đóng góp của thuế thu nhập trong tổng doanh thu thuế cho Chính phủ vẫn tương đối hẹp; các số liệu thống kê cho thấy tổng doanh thu thuế của Chính phủ giảm từ 19,8% năm 1999, xuống 11,7% năm 2008 và chỉ còn 11% ở năm 2009, thấp nhất ở Tây Phi. Atawodi và Ojeka (2012) xác định các nhân tố như thuế suất và sự phức tạp của hệ thống pháp luật thuế có tác động đến sự không tuân thủ thuế của doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Nigeria.
3 Cũng như các nước khác, Chính phủ Việt Nam luôn quan tâm đến việc quản lý thuế của quốc gia, nhất là nghĩa vụ thuế của các doanh nghiệp. Theo Bộ Tài chính (2016), trong các giai đoạn 2001-2005; 2006-2010 và 2011-2015, cơ cấu thu ngân sách theo sắc thuế cho thấy thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) luôn là một trong các nghĩa vụ thuế chiếm tỷ trọng cao so với những loại thuế còn lại. Do vậy, có thể thấy doanh nghiệp là đối tượng nộp thuế đóng vai trò quan trọng của nền kinh tế Việt Nam và thuế TNDN là một trong những nguồn thu chủ chốt mà Chính phủ nước ta rất quan tâm. Theo Điều 6, Điều7, Điều 8 và Điều 9 của Luật Quản lý thuế tại Việt Nam số 78/2006/QH11 ngày 29/11/2006 quy định về quyền, nghĩa vụ của người nộp thuế cũng như trách nhiệm, quyền hạn của cơ quan quản lý thuế thì doanh nghiệp có nghĩa vụ khai báo và nộp thuế hằng năm cho cơ quan thuế, đồng thời cơ quan thuế có nhiệm vụ hỗ trợ, kiểm tra việc kê khai, nộp thuế của doanh nghiệp.
Do đó, công tác quản lý chống thất thu thuế đối với doanh nghiệp tại Việt Nam từ nhiều năm trước đây đã được ráo riết thực hiện theo chủ trương của Chính phủ, được chỉ đạo theo những Quyết định, Nghị định và sau đó là Thông tư ban hành, cụ thể như sau: Căn cứ nội dung của Quyết định số 41/2002/QĐ-TTg ngày 18/03/2002 của Thủ tướng Chính phủ về chống thất thu thuế đối với hoạt động kinh doanh xe ô tô, xe hai bánh gắn máy, công văn số 4736/VPCP-KTTH ngày 13/07/2009 được gửi đến Bộ Tài chính, Bộ Tư pháp và Thanh tra Chính phủ yêu cầu Bộ Tài chính nghiên cứu, ban hành biện pháp quản lý thuế đối với hoạt động kinh doanh xe ô tô, xe hai bánh gắn máy cho phù hợp với quy định của pháp luật thuế và tình hình thực tế của hoạt động này. Nhằm thực hiện ý kiến chỉ đạo trên, Bộ Tài chính đã có Thông tư 71/2010/TT-BTC ngày 07/05/2010 hướng dẫn ấn định thuế đối với cơ sở kinh doanh xe ô tô, xe hai bánh gắn máy trên hóa đơn giao cho người tiêu dùng thấp hơn giá giao dịch thông thường. Đây là căn cứ pháp lý quan trọng để cơ quan thuế đấu tranh ngăn chặn hành vi ghi giá bán trên hoá đơn và kê khai doanh thu tính thuế TNDN thấp hơn giá thanh toán của doanh nghiệp. Năm 2014 là năm có những chính sách thuế được ban hành với mục đích tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp (Trung 4 Kiên 2014).
Để tạo điều kiện ngày càng thuận lợi hơn cho người nộp thuế, khuyến khích phát triển sản xuất cho doanh nghiệp, ngày 18/06/2014 Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư số 78/2014/TT-BTC hướng dẫn thi hành Luật thuế TNDN đưa ra những quy định hướng dẫn về phương pháp tính thuế, xác định thu nhập chịu thuế, căn cứ tính thuế TNDN, hoạt động chuyển nhượng vốn, chuyển nhượng bất động sản, những ưu đãi về thuế cũng như điều kiện ghi nhận chi phí được trừ và không được trừ (Trần Văn Hợi 2014). Tuy nhiên Khoản 1, Điều 6 của Thông tư này cũng quy định về các khoản chi phí hợp lý được trừ liên quan đến sản xuất kinh doanh (SXKD), có hóa đơn chứng từ hợp pháp mà tổng trị giá thanh toán trên hóa đơn từ 20 triệu đồng trở lên nếu doanh nghiệp không có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt sẽ không được ghi nhận là chi phí được trừ trong kỳ. Điều này vừa khuyến khích tăng cường giao dịch không dùng tiền mặt vừa hạn chế gian lận thuế và rửa tiền (Nguyễn Thị Loan và Nguyễn Việt Hồng Anh 2017). Tuy nhiên, theo thống kê của Bộ Tài chính, kết quả kiểm tra trong 9 tháng đầu năm 2016 với 52.222 doanh nghiệp đã phát hiện và truy thu 9.145,11 tỷ đồng, tỷ lệ thu ngân sách đối với các doanh nghiệp từ việc thanh tra kiểm tra chiếm đến 54,16% (Nguyen Vu 2016).
Đến cuối năm 2016, theo thống kê có đến 91.419 doanh nghiệp qua thanh kiểm tra đã có kiến nghị thu hồi ngân sách 17.285 tỷ đồng, truy hoàn thuế 1.400 tỷ đồng, giảm khấu trừ thuế là 79 tỷ đồng, hơn nữa số thu thuế năm 2016 đạt dự toán ngân sách nhờ vào những nỗ lực của công tác thanh tra kiểm tra thuế các doanh nghiệp (Kien and Nga 2017). Sang năm 2017, cơ quan thuế các cấp đã thực hiện hơn 97.000 cuộc thanh tra kiểm tra doanh nghiệp và truy thu 17.960 tỷ đồng, giảm lỗ hơn 34. Mặc dù doanh nghiệp có nghĩa vụ tự khai báo tự nộp thuế theo quy định nhưng nếu không có công tác thanh tra kiểm tra thuế thì số tiền thất thu ngân sách ngày càng nhiều. Như vậy, có thể thấy thực trạng không tuân thủ thuế là một vấn đề đã xuất hiện rất lâu kể từ khi nghĩa vụ thuế được xác lập và được nhiều nhà khoa học trên thế giới nghiên cứu.
Hơn nữa, bối cảnh nghiên cứu cho thấy xu hướng tiếp cận đề 5 tài không tuân thủ thuế của các nhà khoa học trên thế giới là xuất phát từ thực trạng không khai báo đúng thu nhập dẫn đến khai thiếu số thuế phải nộp, làm thất thu thuế cho ngân sách Nhà nước. Bên cạnh đó, sự tăng lên của số thuế truy thu và những vi phạm về thuế qua thanh tra, kiểm tra hằng năm cho thấy vẫn còn không ít các doanh nghiệp tại Việt Nam chưa thực hiện đầy đủ nghĩa vụ thuế của họ mặc dù Nhà nước đã có những bước đi nhất định trong việc quản lý thuế như: ban hành các chính sách, văn bản pháp luật với những quy định điều tiết việc kê khai thuế, xử phạt doanh nghiệp vi phạm nghĩa vụ thuế,.