CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ THUẾ ĐỐI VỚI HỘ KINH DOANH 1. Những vấn đề chung về thuế 1. Khái niệm về thuế Thuế là khoản đóng góp bắt buộc vào nguồn thu của Ngân sách nhà nước, được chính phủ đánh vào thu nhập và lợi nhuận kinh doanh của người nộp thuế hoặc giá trị gia tăng vào chi phí của một số hàng hóa, dịch vụ và giao dịch. Các định nghĩa về thuế được các chuyên gia đưa ra bao gồm: (1) Theo Rochmat Soemitro, thuế là khoản thuế mà người dân nộp vào kho bạc nhà nước theo luật (có thể được thi hành) mà không nhận được dịch vụ đối ứng có thể được xuất trình trực tiếp và được sử dụng để thanh toán các chi phí chung.
Định nghĩa này sau này đã được sửa lại như sau: Thuế là sự chuyển của cải từ người dân sang kho bạc nhà nước để tài trợ cho chi tiêu thường xuyên và thặng dư của nó được sử dụng cho tiết kiệm công, vốn trở thành nguồn tài trợ chính cho đầu tư công; (2) Theo Edwin R.A Seligmen trong Tiểu luận về thuế, thuế là khoản đóng góp bắt buộc của cá nhân cho chính phủ để trang trải các chi phí phát sinh vì lợi ích chung của tất cả mọi người mà không tính đến lợi ích đặc biệt được trao; (3) Một định nghĩa khác được đưa ra bởi Ray M. Herschel Anderson, & Horace R Brock, theo họ thuế là sự chuyển giao nguồn lực từ khu vực tư nhân sang khu vực chính phủ, không phải là hành vi vi phạm pháp luật mà là giúp nhà nước có nguồn thu để đầu tư vào lĩnh vực công nên được tiến hành. Căn cứ vào các quy định trước, không cần có sự trực tiếp và cân đối, Chính phủ có thể thực hiện nhiệm vụ điều hành quản lý; Tóm lại, các yếu tố sau đây xuất hiện trong hầu hết các định nghĩa ở trên. Thuế là: – Bắt buộc; – Đóng góp bằng tiền hoặc hình thức khác; – Bởi các cá nhân, tổ chức hoặc thực thể khác; 6 – Được chính phủ nhận; Và – Vì mục đích công cộng, nói cách khác là không được đáp lại.
Đặc điểm và chức năng của thuế a. Đặc điểm của thuế: - Thuế luôn gắn liền với tính quyền lực, tính pháp lý và tính cưỡng chế cao của Nhà nước, thuế là công cụ điều tiết vĩ mô nền kinh tế. Tiền thuế được dùng để xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước. - Thuế là một phần thu nhập của các tầng lớp xã hội bắt buộc phải nộp cho Nhà nước, tính bắt buộc của thuế thể hiện nghĩa vụ đóng góp của mọi công dân với lợi ích công cộng của toàn xã hội, tính bắt buộc được ghi nhận ở hiến pháp năm 1992, điều 80 công nhận thuế là trách nhiệm, là quyền lợi và nghĩa vụ của công dân.
- Thuế là hình thức chuyển giao thu nhập không mang tính chất hoàn trả trực tiếp và không đối giá, số tiền thuế phải nộp không gắn trực tiếp với lợi ích cụ thể mà người nộp thuế được hưởng từ hàng hóa công cộng do NN cung cấp. Mặc dù không được NN cung cấp bất kỳ hàng hóa, dịch vụ nào từ khoản thuế đã nộp, nhưng NNT có quyền nêu ý kiến của mình nếu như những gì mà họ nhận được từ sự đầu tư của nhà nước là quá thấp trong khi số thuế phải nộp của họ quá cao. - Thuế đóng vai trò là nguồn tài chính NN nhưng thực tế thuế còn có chức năng rộng hơn theo nghĩa thuế có thể được sử dụng như một công cụ để quản lý hoặc thực hiện chính sách NN trong lĩnh vực kinh tế và xã hội. Với chức năng sau này, thuế được sử dụng như một công cụ để đạt được các mục tiêu nhất định nằm ngoài lĩnh vực tài chính, chẳng hạn như mời gọi vốn đầu tư từ trong nước hoặc nước ngoài.
Chính quyền địa phương có thể cung cấp một số cơ chế thuế dễ dàng hơn cho các nhà đầu tư. Do sự dễ dàng và thuận lợi về thuế, nó sẽ tạo ra sức hấp dẫn cho các nhà đầu tư đầu tư vốn vào lĩnh vực này. Chức năng của thuế: Chức năng tăng thu của thuế: Vai trò quan trọng nhất và có thể nhận biết ngay của thuế là vai trò tăng nguồn thu. Người ta thừa nhận rộng rãi rằng nếu không có thuế, chính phủ sẽ không thể hoạt động hiệu quả.
Ở cấp độ cơ bản nhất, thuế chuyển 7 hướng các nguồn lực kinh tế từ công dân sang chính phủ để sử dụng trong các chương trình chi tiêu của họ. Do đó, thuế liên quan đến việc chuyển sự giàu có từ khu vực tư nhân sang khu vực công. Chính phủ sử dụng nguồn thu từ thuế để tài trợ cho dịch vụ công và lực lượng quốc phòng, cung cấp hệ thống pháp luật và thực thi pháp luật, xây dựng đường xá và sân bay, vận hành bệnh viện và cơ sở giáo dục cũng như chi trả các phúc lợi an sinh xã hội. Nếu không có thuế, các chính phủ không thể cung cấp cho công dân của mình nhiều loại cơ sở hạ tầng và dịch vụ mà họ mong đợi.
Chức năng chính trị xã hội của thuế: Điều quan trọng là phải hiểu rằng thuế là một công cụ kỹ thuật chính trị mạnh mẽ mà chính phủ có thể sử dụng như một công cụ để thúc đẩy các mục tiêu của mình. Ví dụ, ở Úc, Chính phủ Liên bang đưa ra một loạt các ưu đãi về thuế theo nhiều “chương trình chi tiêu thuế” khác nhau để khuyến khích các loại hình đầu tư cụ thể, chẳng hạn như tiết kiệm hưu trí tư nhân theo chế độ hưu bổng. Mặt khác, nó áp đặt thuế tiêu thụ đặc biệt đối với thuốc lá, không chỉ để tăng doanh thu mà còn để ngăn cản việc hút thuốc và do đó giảm chi phí y tế của quốc gia. Do đó, lợi ích của sự nhượng bộ hoặc gánh nặng thuế có thể là một công cụ hữu ích trong việc định hình hành vi xã hội.
Chức năng kinh tế của thuế: Thuế cũng có những phân nhánh kinh tế vi mô quan trọng. Ví dụ, việc đánh thuế một số hàng hóa cụ thể sẽ làm tăng giá thành của chúng, khiến chúng đắt hơn các loại hàng hóa tương tự không bị đánh thuế. Do đó, thuế có thể được sử dụng để điều chỉnh hành vi của người tiêu dùng bằng cách khuyến khích chi tiêu cho sản phẩm này thay vì sản phẩm khác. Các chính phủ trên khắp thế giới thường xuyên sử dụng thuế để bảo vệ ngành công nghiệp trong nước bằng cách đánh thuế hàng nhập khẩu cao hơn hàng sản xuất trong nước.
Điều này mang lại cho hàng hóa địa phương một lợi thế cạnh tranh so với hàng hóa nhập khẩu, từ đó khuyến khích chi tiêu cho các sản phẩm địa phương. Tất nhiên, khả năng đánh thuế hàng hóa của chính phủ sẽ phải tuân theo các nghĩa vụ của chính phủ đó theo bất kỳ hiệp định quốc tế nào mà chính phủ đó đã ký kết (ví dụ như với Tổ chức Thương mại Thế giới). Chính phủ cũng thường sử dụng thuế như một công 8 cụ kinh tế vĩ mô để tăng tốc hoặc làm chậm nền kinh tế. Thuế cao hơn thường dẫn đến chi tiêu ít hơn vì NNT có thu nhập khả dụng ít hơn.
Điều này thường có tác động giảm phát đối với nền kinh tế. Mặt khác, thuế thấp hơn thường dẫn đến chi tiêu tăng lên vì NNT có thu nhập khả dụng cao hơn. Điều này có thể gây ra lạm phát cho nền kinh tế. Chức năng phân phối lại của thuế: Thuế cũng có thể hoạt động như một cơ chế tạo ra sự bình đẳng kinh tế giữa các công dân.
Nó có thể được các chính phủ sử dụng để làm cho công dân của họ giàu hơn hoặc nghèo hơn. Một hệ thống thuế ‘đánh thuế người giàu’ để chính phủ có thể ‘cho người nghèo’ sẽ thúc đẩy một xã hội bình đẳng hơn, phân phối lại của cải giữa các công dân, điều này có thể tạo ra một ‘sân chơi’ bình đẳng hơn. Nếu không có thuế, điều kiện sống trong một quốc gia sẽ khá khác biệt. Mỗi người sẽ tự lo liệu cho mình vì không ai có thể dựa vào hàng hóa và dịch vụ do nhà nước tài trợ.
Xã hội sẽ phân cực hơn và sự giàu có sẽ tập trung hơn. Những người ít có khả năng tự hỗ trợ bản thân rõ ràng sẽ phải chịu thiệt hại và toàn bộ cộng đồng được cho là sẽ trở nên tồi tệ hơn. Những vấn đề cơ bản về quản lý thuế 1. Khái niệm về quản lý thuế Không có định nghĩa chính thức về quản lý thuế, mặc dù khái niệm này được sử dụng trong các văn bản liên quan đến vấn đề thuế.
Hiện nay, có nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm “quản lý thuế”. Bryzgalin, quản lý thuế là quá trình quản lý thuế được thực hiện bởi CQT và các cơ quan khác (cơ quan quản lý thuế), được ủy quyền đối với người nộp thuế. Maiburov, quản lý thuế là quá trình quản lý thuế được thực hiện bởi cơ quan thuế và các cơ quan khác (cơ quan quản lý thuế), được trao một số quyền hạn nhất định đối với người nộp thuế. Thuật ngữ “quản lý thuế”, theo nghĩa rộng, bao gồm nhiều hoạt động và kiểm soát hệ thống thuế của nhà nước.
9 Tóm lại, quản lý thuế có vai trò quyết định trong việc đảm bảo nguồn thu từ thuế được tập trung, chính xác, kịp thời, thường xuyên và ổn định vào NSNN. Thông qua việc lựa chọn các biện pháp quản lý thuế hiệu quả, cũng như việc xây dựng và áp dụng các thủ tục, thủ tục thuế hợp lý, cơ quan thuế đảm bảo việc thu thuế đúng pháp luật, đầy đủ, kịp thời vào NSNN. Đối tượng và nguyên tắc quản lý thuế - Đối tượng quản lý thuế là các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân có hoạt động SXKD thuộc những lĩnh vực cho phép trong và ngoài nước. Các CQT quản lý NNT ở các nội dung: + Xác định NNT và đưa họ vào hệ thống thuế + Lấy thông tin từ NNT để xác định trách nhiệm nộp thuế của họ + Tính toán hoặc xác minh số thuế còn nợ, xử lý các sửa đổi và quản lý các yêu cầu bồi thường cũng như giảm thuế + Kiểm tra tính chính xác của thông tin thông qua quyền truy vấn, thu thập thông tin + Thu thuế và khuyến khích việc tuân thủ, bao gồm thông qua các hình phạt và biện pháp trừng phạt + Cung cấp các biện pháp bảo vệ cho NNT và quản lý các tranh chấp, bao gồm cả thông qua các quy trình kháng cáo và xem xét.