CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU TỔNG QUAN ĐỀ TÀI 1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI Làn sóng khởi nghiệp đã và đang cho thấy dấu ấn phát triển mạnh mẽ trên phạm vi toàn cầu dưới tác động của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Tại Việt Nam, theo thống kê của Bộ Khoa học và Công nghệ, chỉ trong chưa đầy 2 năm, số lượng doanh nghiệp khởi nghiệp đổi mới sáng tạo (gọi tắt là doanh nghiệp khởi nghiệp - DNKN) đã có sự bứt phá mạnh mẽ - tăng gấp 3 lần, từ mức 1.000 doanh nghiệp năm 2016 lên tới hơn 3.000 vào năm 2018; cùng với đó, theo kết quả điều tra của Topica Founder Institute, giá trị đầu tư vào các thương vụ khởi nghiệp cũng tăng gấp đôi, từ 205 triệu USD (2016) lên tới hơn 400 triệu USD (2018). Song, cần thừa nhận một thực tế rằng, so với tổng số doanh nghiệp Việt Nam được thành lập mới trong 2 năm qua (lần lượt là 110.300 doanh nghiệp ứng với năm 2016 và 2018), con số 3.000 DNKN trên dường như còn khiêm tốn.
Điều này phần nào phản ánh thực tế rằng việc khởi nghiệp tại Việt Nam trong bối cảnh hiện nay là điều hết sức khó khăn - có rất nhiều dự án khởi nghiệp thuộc các lĩnh vực, ngành nghề và quy mô khác nhau được nhà đầu tư quốc tế đánh giá cao, song chủ nhân của các dự án này vẫn đang phải loay hoay tìm kiếm giải pháp cho những thách thức họ đang phải đối mặt, mà nổi bật là vấn đề tài chính. Bên cạnh nỗ lực tự thân từ phía doanh nghiệp và doanh nhân trẻ, thì cơ chế chính sách có tính định hướng, kiến tạo của Đảng và Nhà nước cũng như các giải pháp, mô hình tài chính có tính đặc thù và đột phá từ phía các định chế tài chính cần phải thực sự hướng về cộng đồng khởi nghiệp. Trong từng giai đoạn, DNKN sẽ cần phải huy động những hỗ trợ khác nhau, đặc biệt là hỗ trợ tài chính. Chúng có thể đến từ: (1) Chủ thể hỗ trợ khởi nghiệp, bao gồm cơ sở ươm tạo, tổ chức thúc đẩy kinh doanh, không gian làm việc chung, tổ chức cung cấp các công cụ thí nghiệm thử nghiệm để xây dựng sản phẩm mẫu; (2) Cơ quan, tổ chức chuyên trách, chương trình, đề án hỗ trợ khởi nghiệp trực thuộc chính phủ, bên cạnh khu vực trường đại học, viện nghiên cứu, là nguồn cung nhân lực chất lượng cao, các kết quả nghiên cứu và tài sản trí tuệ; (3) Định chế đầu tư cho khởi nghiệp, bao gồm quỹ đầu tư mạo hiểm, nhà đầu tư thiên thần, quỹ đầu tư gọi vốn từ cộng đồng và các định chế tài chính khác.
Ngoài ra, một hệ thống chính sách và quy định pháp luật cởi mở với hoạt động thành lập doanh nghiệp, đầu tư vào hoạt động khởi nghiệp cũng như thoái vốn cũng sẽ là nền tảng vững chắc để hoạt động khởi nghiệp và hỗ trợ khởi nghiệp diễn ra liên tục, hiệu quả và bền vững. 2 Tại Việt Nam, bám sát tinh thần “quốc gia khởi nghiệp1” được khởi xướng từ Đại hội Đại biểu toàn quốc lần XII – tập trung thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo nhằm đóng góp vào phát triển kinh tế - xã hội nói chung, kể từ năm 2016 đến nay, một loạt chương trình, đề án quy mô cấp quốc gia về giải pháp hỗ trợ, tạo thuận lợi cho DNKN đã được ban hành, đáng chú ý có thể kể đến: - Đề án hỗ trợ phụ nữ khởi nghiệp giai đoạn 2017-2025, theo Quyết định số 939/QĐ-TTg ngày 30/06/2017; - Đề án hỗ trợ học sinh, sinh viên khởi nghiệp, theo Quyết định số 1665/QĐ- TTg ngày 30/10/2017; - Nghị quyết số 35/NQ-CP ngày 16/05/2016 về hỗ trợ và phát triển doanh nghiệp đến năm 2020 – theo đó, mục tiêu mà Nghị quyết đặt ra là từ nay đến 2020, xây dựng doanh nghiệp Việt Nam có năng lực cạnh tranh, phát triển bền vững; - Nghị quyết số 19-2017/NQ-CP ngày 06/02/2017 về tiếp tục thực hiện nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu nhằm cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia năm 2017, định hướng đến 2020. Ngoài ra, một số văn bản pháp luật khác có liên quan cũng đã được ban hành nhằm tạo điều kiện phát triển doanh nghiệp đổi mới sáng tạo và hỗ trợ tối đa việc hiện thực hóa những ý tưởng mới vào lĩnh vực nghiệp khởi, cụ thể: - Luật hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) năm 2017, trong đó có nội dung về hỗ trợ và đầu tư cho DNNVV khởi nghiệp sáng tạo; - Luật chuyển giao công nghệ năm 2017, trong đó có nội dung về hỗ trợ hoạt động khởi nghiệp và doanh nghiệp đổi mới sáng tạo; - Nghị định số 38/2018/NĐ-CP quy định chi tiết về đầu tư cho DNNVV khởi nghiệp sáng tạo, ban hành ngày 11/03/2018… Tất cả các chương trình, đề án cũng như văn bản pháp luật có liên quan kể trên là tiền đề quan trọng để xây dựng hoạt động xúc tiến phát triển ý tưởng, nghiên cứu đổi mới sáng tạo cho đất nước trong giai đoạn từ nay đến 2025. Xuất phát từ thực tiễn trên, việc triển khai đề tài “Giải pháp tài chính hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp tại Việt Nam” là hết sức cấp thiết.
Đề tài được kỳ vọng có thể mang lại nhiều giá trị góp phần vào công cuộc thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội nói chung của Việt Nam. 1 "Quốc gia khởi nghiệp" là quốc gia dành sự ưu tiên cho phát triển hệ sinh thái khởi nghiệp, trong đó hoạt động đầu tư mạo hiểm (đầu tư nhằm hiện thực hóa các ý tưởng sáng tạo với tư duy "chấp nhận rủi ro") nhằm đóng góp vào sự phát triển kinh tế - xã hội. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và sự phát triển của doanh nghiệp khởi nghiệp Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư, hay cách mạng công nghiệp 4.0) khởi phát vào đầu những năm 2000 với xu hướng kết hợp các công nghệ giúp xóa nhòa ranh giới giữa vật lý, số hóa và sinh học.
Trước khi diễn ra CMCN 4.0, lịch sử thế giới đã trải qua ba cuộc cách mạng trước đó, cụ thể là: cuộc cách mạng lần thứ nhất với cơ khí hoá bằng máy hơi nước, cuộc cách mạng lần thứ hai với động cơ điện và cuộc cách mạng lần thứ ba với kỷ nguyên máy tính và tự động hoá (Hình 1.1: Các cuộc cách mạng công nghiệp trong lịch sử thế giới Nguồn: WEF (2020) Tuy vậy, CMCN 4.0 khác biệt hoàn toàn về tốc độ, quy mô và tác động so với ba lần trước. Về tốc độ, nếu như các cuộc cách mạng công nghiệp trước đây chỉ diễn ra theo cấp số cộng thì CMCN 4.0 có tốc độ phát triển theo cấp số nhân. Điều này đẩy nhanh tốc độ của tất cả các khâu liên quan đến lên ý tưởng kinh doanh, thử nghiệm ý tưởng và hiện thực hoá ở quy mô lớn trên phạm vi toàn cầu. Về mặt quy mô, tác động của CMCN 4.0 bao trùm toàn bộ hệ thống từ hoạt động sản xuất, quản trị đến điều hành.
Theo Diễn đàn Kinh tế Thế giới, những thay đổi này cộng hưởng với sự đột phá về cộng nghệ trong các lĩnh vực trí tuệ nhân tạo, người máy, công nghệ sinh học, khoa học vật liệu, lưu trữ năng lượng và tính toán lượng tử, CMCN 4.0 sẽ thay đổi toàn diện mọi mặt của đời sống kinh tế xã hội và môi trường. Những 4 sự thay đổi này đang hiện diện xung quanh chúng ta, từ xe hơi tự lái đến máy bay không người lái hay trợ lý ảo. Với sự đột phát của công nghệ tính toán và khả năng khai thác dữ liệu lớn, trí tuệ nhân tạo cũng đạt được những thành tựu vượt bậc trong những năm gần đây. Về tác động kinh tế, CMCN 4.0 có tác động mạnh mẽ đến hầu như tất cả các khâu trong guồng máy của nền kinh tế thế giới, từ hoạt động chế tạo sản xuất cho đến hành vi tiêu dùng.
Tuy vậy, CMCN 4.0 có tác động không đồng đều lên các ngành khác nhau, với nhiều ngành sản xuất truyền thống đang phải thu hẹp sản xuất hoặc dẫn đến đóng cửa, trong khi một số ngành khác đang bước vào giai đoạn tăng trưởng thịnh vượng. Có thể nói cộng đồng doanh nghiệp thế giới đang chứng kiến giai đoạn chuyển giao quyền lực khi mà các doanh nghiệp lớn, lâu đời và thống lĩnh thị trường trong một thời gian dài đang bị bỏ lại khá xa bởi các doanh nghiệp trẻ khởi nghiệp. Một số trường hợp điển hình như trong lĩnh vực công nghệ là Google, Facebook, Apple, Amazon…đang tăng trưởng rất nhanh và dần vượt mặt các công ty nổi tiếng khác như Microsoft, IBM, Intel. Hay trong lĩnh vực chế tạo là sự trỗi lên mạnh mẽ của Tesla, thế lực chế tạo ô tô điện và xe tự lên, đang đặt một áp lực cạnh tranh khổng lồ lên các nhà sản xuất xe hơi truyền thống như General Motors hay Toyota.
Cuộc chiến dường như càng khốc liệt hơn khi ngày càng có nhiều doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ nhập cuộc nhờ rào cản chi phí gia nhập thị trường được giảm đi đáng kể, khả năng tiếp cận khách hàng rộng mở và lượng thông tin khổng lồ và nhiều tác động tích cực khác từ CMCN 4. Về phía người tiêu dùng, người dân sẽ có cơ hội được sử dụng những sản phẩm chất lượng tốt với một chi phí hợp lý hơn. Điều này có được nhờ sự phát triển công nghệ trong các lĩnh vực năng lượng, vật liệu, Internet vạn vật, người máy…giúp giảm thiểu đáng kể chi phí sản xuất và tiết kiệm nguồn lực. Ngoài ra, CMCN 4.0 cũng đang làm thay đổi đáng kể tương quan về quyền lực kinh tế giữa các quốc gia chủ yếu dựa vào khai thác tài nguyên và các quốc gia chú động đầu tư vào công nghệ và đổi mới sáng tạo.
Đây được xem là cơ hội hiếm có cho các quốc gia đang phát triển và thị trường mới nổi thu hẹp khoảng cách với các quốc gia phát triển. Về cơ hội, tương tự các cuộc cách mạng trước đây, CMCN 4.0 được kỳ vọng sẽ tiếp tục làm tăng thu nhập và chất lượng cuộc sống của người dân ở các quốc gia. Và thực tế cho thấy đây là bộ phận đã và đang hưởng lợi nhiều nhất từ cuộc cách mạng lần này. Các dịch vụ công nghệ trong thế giới số làm tăng hiệu quả và sự hài lòng của người dân, từ đặt xe, đặt vé máy bay, mua hàng hoá, thực hiện thanh toán, nghe nhạc, xem phim… Trong tương lai không xa, những tiến bộ về khoa học công nghệ được dự báo sẽ còn nâng cao hiệu quả và năng suất.