Chương 1, tác giả thực hiện các nội dung Chương 2 gồm cơ sở lý thuyết, đề xuất mô hình nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu. 6 Chƣơng 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU Chương 2 trình bày các cơ sở lý luận phục vụ cho nghiên cứu và lược khảo các nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan đến nội dung nghiên cứu. Dựa trên cơ sở lý thuyết và kết quả nghiên cứu từ các tài liệu lược khảo, tác giả đề xuất mô hình nghiên cứu sử dụng trong nghiên cứu định lượng.1 Cơ sở lý thuyết về doanh nghiệp nhỏ và vừa 2.1 Khái niệm doanh nghiệp nhỏ và vừa Doanh nghiệp nhỏ và vừa là những doanh nghiệp có quy mô nhỏ bé về mặt vốn, lao động hay doanh thu. DNNVV có thể chia thành ba loại căn cứ vào quy mô đó là doanh nghiệp siêu nhỏ (micro), doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp vừa.
Theo tiêu chí của nhóm ngân hàng Thế giới, doanh nghiệp siêu nhỏ là doanh nghiệp có số lượng lao động dưới 10 người, doanh nghiệp nhỏ có số lượng lao động từ 10 đến dưới 50 người, còn doanh nghiệp vừa có từ 50 đến 300 lao động. Ở mỗi nước, người ta có tiêu chí riêng để xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa. Ở Việt Nam, theo Nghị định số 39/2018/NĐ-CP ngày 11/03/2018 của Chính phủ về trợ giúp phát triển DNNVV như sau: DNNVV là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật, được chia thành ba cấp là siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu tiên), cụ thể như trong Bảng 2.1 sau đây: Bảng 2.1: Tiêu chí phân loại doanh nghiệp tại Việt Nam Doanh nghiệp Doanh nghiệp Doanh nghiệp siêu nhỏ nhỏ vừa Khu vực Số lao Doanh thu hoặc Số lao Doanh thu hoặc Số lao Doanh thu động nguồn vốn động nguồn vốn động hoặc nguồn vốn Doanh thu 200 Nông, lâm, Doanh thu 50 tỷ 10 100 200 tỷ đồng hoặc thủy sản, 3 tỷ đồng đồng hoặc nguồn người người người nguồn vốn 100 công nghiệp vốn 20 tỷ đồng tỷ đồng Doanh thu 100 Doanh thu Doanh thu 10 tỷ Thương mại 10 50 tỷ đồng hoặc 100 300 tỷ đồng đồng hoặc nguồn và dịch vụ người người nguồn vốn 50 tỷ người hoặc nguồn vốn vốn 3 tỷ đồng đồng 100 tỷ đồng Nguồn: Nghị định số 39/2018/NĐ-CP 7 2.2 Vị trí, vai trò của DNNVV trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Về mặt lý luận và thực tiễn số liệu thống kê cho thấy DNNVV có vị trí khá lớn ở nhiều nước trên thế giới, trong đó bao gồm các nước công nghiệp phát triển. Về số lượng chiếm ưu thế tuyệt đối, DNNVV có mặt trong nhiều ngành nghề, lĩnh vực và tồn tại trong một bộ phận không thể thiếu được trong nền kinh tế của mỗi nước.
Nó là một bộ phận hữu cơ gắn bó chặt chẽ với các doanh nghiệp lớn phát triển. - DNNVV góp phần quan trọng tạo công ăn việc làm cho người lao động, tăng thu nhập cho dân cư. Với tốc độ tăng dân số hiện nay cùng với quá trình đô thị hóa, quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa làm cho nhu cầu giải quyết việc làm ngày càng trở nên bức bách, suất đầu tư để tạo ra một chỗ làm việc ở DNNVV thấp hơn nhiều so với doanh nghiệp lớn, chi phí trung bình để tạo ra một chỗ làm cho DNNVV ở Việt Nam vào khoản 740.000 đồng, chỉ bằng 3% trong doanh nghiệp lớn. DNNVV dễ dàng tiếp nhận lao động thừa ra từ khu vực nông nghiệp chưa đòi hỏi trình độ cao, phải đào tạo qua nhiều thời gian chi phí tốn kém, mà chỉ cần bồi dưỡng hay đào tạo ngắn hạn là có thể tham gia sản xuất được.
Hiện nay, DNNVV đã thu hút rất nhiều lao động, đưa tổng lao động đến khoản 6 triệu việc làm chiếm khoản 17% lực lượng lao động, nhằm đấy mạnh xuất khẩu, tham gia cạnh tranh, phát triển nông thôn cũng như tạo sự phát triển đồng đều giữa các vùng làm nhiệm vụ hết sức cần thiết và cấp bách đảm bảo sự lâu dài, bền vững và công bằng. Vai trò giải quyết việc làm của DNNVV không chỉ là số lao động thường xuyên ở các DNNVV mà còn là sự tạo điều kiện để lao động ngoài quốc doanh có việc làm thông qua các hoạt động như cung ứng đầu vào, tiếp nhận đầu ra và phục vụ sản xuất kinh doanh cũng như những công việc không thường xuyên do các cá nhân và hộ gia đình bên ngoài đảm nhận. Đặc biệt đối với ngành nghề truyền thống thì tỷ lệ này còn cao hơn. - DNNVV đã tạo nên nguồn thu đáng kể cho nền kinh tế quốc dân.
DNNVV ở nước ta có những đóng góp đáng kể cho nền kinh tế quốc dân, cũng như nhiều nước trên thế giới, đã đóng góp khoản 31% giá trị tổng sản lượng công nghiệp, khoản 35 – 36% GDP trong cả nước. Nếu căn cứ vào tốc độ tăng trưởng GDP của các DNNVV tốc độ tăng trưởng, tiềm năng tăng trưởng để đạt được những mục tiêu 8 kinh tế xã hội đề ra trong giai đoạn phụ thuộc rất lớn vào sự phát triển của DNNVV chứ không chỉ phụ thuộc vào các công trình, dự án lớn. - Phát triển DNNVV tạo điều kiện tận dụng triệt để các nguồn lực xã hội. DNNVV thường được bắt đầu từ một nguồn vốn rất hạn hẹp và chủ yếu từ người dân.
Hầu như không có sự trợ giúp nào từ bên ngoài, vốn đầu tư cho DNNVV thường là vài trăm triệu thậm chí chưa đến một trăm triệu vì vậy nó có khả năng thu hút vốn một số ngành nghề trong dân cư rất lớn. DNNVV với nguồn lợi rất ít, lao động thủ công cơ giới là chủ yếu. - DNNVV đóng góp phần đào tạo, bồi dưỡng, rèn luyện trong thực tế một đội ngũ doanh nhân mới trong nền kinh tế thị trường. Trong thực tế, có những DNNVV cứ giữ mãi quy mô hoạt động của mình là bởi vì phù hợp với khả năng kinh doanh và ngành nghề truyền thống của họ, nhưng cũng có vài doanh nghiệp phát triển lên thành doanh nghiệp lớn.
- DNNVV không cần vốn lớn, có thể giảm chi phí đầu vào và tăng khả năng thu nhập từ đầu ra. DNNVV có lợi thế là quy mô vốn nhỏ, dễ dàng huy động, sử dụng đồng tiền phân tán và nhàn rỗi trong nhân dân. Có nhiều DNNVV thành lập trên cơ sở lấy từ nguồn vốn do tiết kiệm của gia đình, không phải chịu lãi suất cao. DNNVV ở nước ta có những đóng góp đáng kể cho nền kinh tế quốc dân, cũng như nhiều nước trên thế giới, đã đóng góp khoản 31% giá trị tổng sản lượng công nghiệp, khoản 35 – 36% GDP trong toàn quốc.
Nếu căn cứ vào tốc độ tăng trưởng GDP của các DNNVV tốc độ tăng trưởng, tiềm năng tăng trưởng để đạt những mục tiêu kinh tế xã hội đề ra trong giai đoạn phụ thuộc rất lướn vào sự phát triển của DNNVV chứ không chỉ phụ thuộc vào các công trình, dự án lớn. - DNNVV có tác dụng tạo nguồn kích thích cạnh tranh kinh tế giữa các DNNVV. Khi các nhà sản xuất chỉ là một số nhỏ doanh nghiệp lớn thì khách hàng dễ bị họ áp đảo, họ có thể đặt giá cao, kìm hãm sự phát triển của kỹ thuật, loại trừ các cạnh tranh và lạm dụng vị trí lạm quyền của họ để thao túng thị trường. Do đó, cần có DNNVV để tạo ra thế cạnh tranh nhằm hạn chế tình hình trên.3 Những ưu thế và hạn chế của DNNVV trong nền kinh tế thị trường a.
Một số ưu thế của DNNVV DNNVV là nguồn động lực mạnh mẽ tạo nên sự tăng trưởng liên tục cho nền kinh tế nói chung, của vùng, của khu vực nói riêng. Phát triển các ngành hỗ trợ đối với các ngành mũi nhọn như chế tạo máy, điện tử và một số ngành khác, góp phần cải thiện cán cân thanh toán nhờ việc tăng xuất khẩu hàng hoá, thành phẩm, thay thế hàng nhập khẩu bằng các hàng hoá xuất khẩu trong nước và tạo ra việc làm chủ yếu cho lao động nông thôn lẫn thành thị. Mặc khác việc xoá đói giảm nghèo, công nghiệp hóa – hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn giảm sự chênh lệch giữa nông thôn và thành thị, cũng như có sự đóng góp không nhỏ của DNNVV. Những thuận lợi, ưu thế có thể được khái quát như sau: - Các DNNVV có quy mô thích hợp, linh hoạt, gọn nhẹ, dễ khởi nghiệp, ban đầu không đòi hỏi gì nhiều như vốn, số lượng nhân công, mặt bằng sản xuất kinh doanh,….
Chính vì vậy, DNNVV tồn tại và phát triển ở hầu hết các ngành, các lĩnh vực và chiếm tỷ lệ lớn trong các thành phần kinh tế. Với ưu thế đó DNNVV dễ chuyển đổi, chuyển đổi nhanh chóng do đó dễ dàng thích nghi với sự biến đổi của thị trường. Đặc biệt là những mặt hàng có nhu cầu nhỏ lẽ và mang tính địa phương , DNNVV có khả năng chuyển hướng để đáp ứng nhu cầu một cách nhanh chóng của thị trường. - Bộ máy quản lý gọn nhẹ, linh hoạt, năng động, thích nghi nhanh với những thay đổi, biến động của thị trường.
Khả năng chuyển hướng kinh doanh nhanh và ít bị tổn thất hơn so với doanh nghiệp lớn khi thị trường biến động do vốn đầu tư ít, thu hồi vốn nhanh, qua đó góp phần tiết kiệm giảm chi phí. - Vốn đầu tư ban đầu ít, hiệu quả cao, thu hồi nhanh. Điều đó tạo ra sự hấp dẫn trong đầu tư sản xuất kinh doanh đối với nhiều cá nhân, mọi thành phần kinh tế vào khu vực sản xuất này. Dễ dàng phát huy với mọi tiềm năng của địa phương và cơ sở.
DNNVV dễ dàng được thiết lập và phát triển ở mọi khu vực, mọi khoản trống nhỏ của thị trường để tiếp cận và phát huy tiềm năng của địa phương, nơi có doanh nghiệp lớn không thể len lõi vào được. - Thuận lợi ở điểm kết hợp kinh tế với công bằng xã hội. DNNVV hơn hẳn doanh nghiệp lớn về ảnh hưởng tích cực về môi trường xung qunh vì đây là thành phần kinh tế thu hút nhiều lao động, đặc biệt là lao động trung bình và lao động thấp, 10 góp phần rất lớn trong việc giải quyết công ăn việc làm cho xã hội, tạo sự phát triển cân bằng giữa các khu vực. - DNNVV là nguồn bổ sung thiết yếu cho doanh nghiệp lớn cho chính sự tồn tại và phát triển của các doanh nghiệp lớn.