Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ TÍN DỤNG HỖ TRỢ DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA 1. Quan niệm doanh nghiệp nhỏ và vừa 1. Quan niệm doanh nghiệp nhỏ và vừa ở một số nước Châu Á Tại các nền kinh tế khác nhau, ở từng giai đoạn phát triển kinh tế thì quan niệm về DNNVV cũng khác nhau.
Theo nội dung đăng tải tại Hội thảo “Tăng cường hỗ trợ và hợp tác vì sự phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ APEC” ( Kỷ yếu Hội thảo năm 2006), DNVVN ở một số nước châu Á được quan niệm cụ thể theo đặc điểm kinh tế của mỗi quốc gia. Chẳng hạn: Tại Hồng Công các DNNVV được phân loại theo ngành sản xuất và số lượng nhân viên. Theo đó, các DNNVV trong các ngành sản xuất có số nhân viên dưới 100 người và ngành phi sản xuất có số nhân viên dưới 50 người. Bên cạnh đó, từ góc độ là bên cung cấp dịch vụ, các ngân hàng tại Hongkong còn đưa ra việc phân loại dựa vào các tiêu chí như doanh thu hàng năm, mức độ tập trung tư bản, năng lực tín dụng.
Tại Thái Lan, việc phân loại các doanh nghiệp được đưa ra một cách chi tiết và cụ thể hơn với sự tách biệt rõ ràng giữa các doanh nghiệp vừa và doanh nghiệp nhỏ. Các thông số quan trọng được sử dụng là số lượng nhân công, tài sản cố định và ngành hàng kinh doanh. Theo đó, các doanh nghiệp nhỏ thuộc ngành sản xuất có số lượng công nhân dưới 50 người, tài sản dưới 50 triệu bạt, các doanh nghiệp vừa thì có số lượng công nhân từ 51-200 người và tài sản từ 50- 200 triệu bạt; đối với lĩnh vực bán buôn thì doanh nghiệp nhỏ có số lượng công nhân dưới 25 người, tài sản dưới 50 triệu bạt, doanh nghiệp vừa có số lượng công nhân từ 26- 50 người và tài sản từ 50- 200 triệu bạt. 5 Tại Đài Loan, tùy thuộc vào bản chất của từng ngành kinh doanh các cơ quan Chính phủ phân loại DNNVV dựa trên số lượng nhân viên thường xuyên: - Các doanh nghiệp trong ngành sản xuất, ngành xây dựng hoặc ngành khai thác mỏ, số lượng nhân viên thường xuyên dưới 200 người.
- Các doanh nghiệp trong các ngành nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp và chăn nuôi, ngành điện, nước và gas, ngành bán lẻ, bệnh viện, ngành giao thông và liên lạc, ngành tài chính và bảo hiểm, bất động sản và cho thuê, ngành dịch vụ công nghệ và khoa học, ngành dịch vụ giáo dục, ngành y tế và phúc lợi xã hội, ngành văn hóa thể thao và giải trí hoặc các ngành dịch vụ khác có số lượng nhân viên dưới 50 người. Bên cạnh đó, theo Bộ Kinh tế Đài Loan, DNNVV là những doanh nghiệp đăng ký với Bộ Kinh tế và đáp ứng các yêu cầu sau đây: - Doanh nghiệp trong ngành sản xuất, ngành xây dựng, hoặc ngành khai thác mỏ có vốn góp không quá 80 triệu Nhân dân tệ. - Doanh nghiệp trong ngành nông nghiệp, lâm nghiệp ngư nghiệp và chăn nuôi, ngành điện, nước và gas, ngành bán lẻ, bệnh viện, ngành giao thông liên lạc, tài chính và bảo hiểm, bất động sản và cho thuê, ngành dịch vụ công nghệ và khoa học, ngành y tế và phúc lợi xã hội, ngành văn hóa thể thao và giải trí hoặc các ngành dịch vụ khác có doanh thu của Nhà nước không quá 100 triệu Nhân dân tệ. Từ các quan niệm về DNNVV ở một số quốc gia châu Á, chúng ta thấy, tuỳ thuộc vào hoàn cảnh kinh tế của mỗi nước, việc áp dụng các tiêu chí để xác định DNNVV có khác nhau.
Tuy nhiên, phần lớn khi xác định DNNVV, các quốc gia đã dựa chủ yếu vào các tiêu chí sau: Số lượng lao động thường xuyên; Số lượng vốn góp; Đặc điểm ngành nghề kinh doanh. Đây là các tiêu chí cơ bản để xác định DNNVV ở các nước châu Á và cũng là 6 những tiêu chí có tính định hướng để luận văn làm rõ các tiêu chí cụ thể khi xác định DNNVV ở Việt Nam. Quan niệm doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam Tại Việt Nam, theo Nghị định số 90/2001 NĐ-CP ngày 23/11/2001 của Chính phủ thì DNNVV được quan niệm như sau: “Doanh nghiệp vừa và nhỏ là các đơn vị sản xuất, kinh doanh độc lập có đăng ký kinh doanh theo pháp luật hiện hành, có vốn đăng ký không quá 10 tỷ đồng hoặc số lao động trung bình hàng năm không quá 300 người”. Như vậy, theo Nghị định này thì DNNVV phải đáp ứng được các tiêu chí sau: - Về mặt pháp lý: phải là đơn vị sản xuất kinh doanh độc lập, có đăng kí kinh doanh theo pháp luật hiện hành.
- Về vốn đăng ký: không quá 10 tỉ đồng - Về số lượng lao động trung bình hàng năm: không quá 300 người. Theo Nghị định số 56/2009/NĐ-CP ngày 30/06/2009 của Chính phủ V/v trợ giúp phát triển DNNVV Việt Nam, DNNVV lại được quan niệm như sau: “ Doanh nghiệp nhỏ và vừa là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật, được chia thành ba cấp; siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn ( tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân năm ( tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu tiên.) Theo Nghị định trên, DNNVV phải đáp ứng các tiêu chí sau: - Về mặt pháp lý: phải là cơ sở kinh doanh đã kinh doanh theo quy định của pháp luật. - Về quy mô: được phân thành 3 cấp : siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn. 7 - Về vốn đăng ký: phụ thuộc vào quy mô và loại hình doanh nghiệp.
- Về số lượng lao động trung bình hàng năm: phụ thuộc vào quy mô và loại hình doanh nghiệp. Tiêu chí phân loại doanh nghiệp Doanh Doanh nghiệp nhỏ Doanh nghiệp vừa nghiệp siêu nhỏ Số lao Tổng nguồn Số lao động Tổng nguồn Số lao động động vốn vốn I- Nông, 10 người 20 tỷ đồng Từ trên 10 Từ trên 20 tỷ Từ trên 200 lâm nghiệp trở trở xuống người đến đồng đến 100 người đến và thuỷ sản xuống 200 người tỷ đồng 300 người II- C/nghiệp 10 người 20 tỷ đồng Từ trên 10 Từ trên 20 tỷ Từ trên 200 và xây dựng trở trở xuống người đến đồng đến 100 người đến xuống 200 người tỷ đồng 300 người III- Thương 10 người 10 tỷ đồng Từ trên 10 Từ trên 10 tỷ Từ trên 50 mại và dịch trở trở xuống người đến 50 đồng đến 50 người đến vụ xuống người tỷ đồng 100 người So với Nghị định 90/2001, Nghị định 56/2009 đưa ra một quan niệm tương đối đầy đủ về DNNVV. Điểm mới của Nghị định này là về quy mô, DNNVV được phân loại cụ thể theo 3 loại hình, đó là: doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp vừa. Theo đó, khu vực DNNVV đến nay không chỉ đơn thuần là các doanh nghiệp mà còn có các hợp tác xã và hộ kinh doanh cá thể.
Có thể nói, đây là một quan niệm rất đầy đủ về DNNVV ở Việt Nam hiện nay. Luận văn sử dụng quan niệm này là cơ sở lí luận cho việc nghiên cứu đề tài. Đặc điểm của doanh nghiệp nhỏ và vừa Các DNNVV được phân loại thông qua qui mô, số lượng lao động và vốn góp. Về cơ bản, các DNNVV có những đặc điểm sau: Thứ nhất, dễ khởi sự.
Luật Doanh nghiệp hiện nay không áp dụng mức vốn pháp định bắt buộc khi khởi sự đối với các ngành nghề kinh doanh không có điều kiện, Luật cũng không qui định số lượng lao động tối thiểu khi cấp giấy phép thành lập doanh nghiệp. Cùng với môi trường kinh doanh đang được cải thiện thì số lượng các DNNVV đăng ký mới gia tăng nhanh chóng. Thứ hai, linh hoạt cao. Do quy mô không lớn nên đầu tư của các DNNVV vào các dây chuyền và máy móc công nghệ không nhiều, chính vì lẽ đó nên sau một thời gian hoạt động nếu nhận thấy một ngành, hay một mặt hàng kinh doanh nào đó không có lời thì lập tức các DNNVV sẽ chuyển hướng sang các mặt hàng và dịch vụ hiệu quả hơn.
Một số DNNVV sau một thời gian khẳng định được uy tín và thương hiệu đã tiến hành các biện pháp tích luỹ vốn và mở rộng quy mô để trở thành các doanh nghiệp lớn. Tuy nhiên, có nhiều chủ DNNVV bằng lòng với quy mô của doanh nghiệp mình và thể hiện tính linh hoạt cao để khẳng định vị trí trên thương trường. Thứ ba, dễ dàng trong cạnh tranh. Với xuất phát điểm là khả năng dễ tham gia vào thị trường cũng như rút khỏi thị trường, trong các chuỗi giá trị ngành hàng thì các DNNVV có thể khá dễ dàng tìm cho mình phân khúc thị trường phù hợp trong hợp tác với các doanh nghiệp lớn.
Bên cạnh đó, chúng ta cũng có thể kể đến hàng loạt các điểm yếu của các DNNVV, mà khởi đầu là thiếu các nguồn lực phát triển, đặc biệt là các nguồn lực về tài chính và con người. Đối với một số ngành hàng thì các DNNVV không tận dụng được các lợi thế về quy mô. Còn một điểm nữa đó là sự hình thành và phát triển của các DNNVV phụ thuộc nhiều vào chủ doanh nghiệp nên khó thu hút trí tuệ tập thể trong các quyết định dài hạn và 9 chiến lược của doanh nghiệp. Điều này thể hiện qua cách thức đưa ra các quyết định quan trọng mang tính chiến lược của doanh nghiệp.
Tại các doanh nghiệp lớn các quyết định mang tính chiến lược được thực hiện theo quy trình và có hệ thống, tuy nhiên tại các DNNVV thì các quyết định này trong nhiều trường hợp mang nặng ý kiến chủ quan của chủ doanh nghiệp. Vai trò của doanh nghiệp nhỏ và vừa trong nền kinh tế Theo số liệu thống kê, tính đến cuối năm 2006 Việt Nam có khoảng 210. Dự kiến đến năm 2010 có khoảng 500.000 doanh nghiệp đăng ký theo Luật doanh nghiệp; trong số này khoảng 96% là các DNNVV. Khu vực DNNVV đóng vai trò quan trọng trong phát triển bền vững của nền kinh tế, thể hiện trên các mặt sau đây: Một là, góp phần đáng kể vào sự phát triển và ổn định KT-XH: Việc phát triển DNNVV đã có những đóng góp quan trọng vào tăng trưởng kinh tế, đặc biệt đối với những nước có trình độ phát triển thấp như Việt Nam thì giá trị gia tăng hoặc GDP do các DNNVV tạo ra hàng năm chiếm tỷ trọng khá lớn, đảm bảo thực hiện những chỉ tiêu cơ bản của nền kinh tế.