phần mở đầu và kết luận, luận văn đƣợc kết cấu thành 3 chƣơng: CHƢƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CHẤT LƢỢNG TÍN DỤNG DOANH NGHIỆP BÁN BUÔN TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI CHƢƠNG 2: THỰC TRẠNG CHẤT LƢỢNG TÍN DỤNG ĐỐI VỚI KHÁCH HÀNG DOANH NGHIỆP BÁN BUÔN TẠI NGÂN HÀNG TMCP NGOẠI THƢƠNG VIỆT NAM CHI NHÁNH SỞ GIAO DỊCH CHƢƠNG 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƢỢNG TÍN DỤNG ĐỐI VỚI KHÁCH HÀNG DOANH NGHIỆP BÁN BUÔN TẠI NGÂN HÀNG TMCP NGOẠI THƢƠNG VIỆT NAM CHI NHÁNH SỞ GIAO DỊCH 6 CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CHẤT LƢỢNG TÍN DỤNG DOANH NGHIỆP BÁN BUÔN TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Khái niệm Tín dụng là một giao dịch về tài sản (tiền hoặc hàng hoá) giữa bên cho vay (Ngân hàng và các định chế tài chính khác) và bên đi vay (cá nhân doanh nghiệp và các chủ thể khác), trong đó bên cho vay chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời hạn nhất định theo thoả thuận. Bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện vốn và lãi cho bên cho vay khi đến thời hạn thanh toán.
Về bản chất, tín dụng là một quan hệ vay mƣợn dựa trên sự tin cậy. Nguyên thủy, thuật ngữ tín dụng có nguồn gốc từ tiếng Latinh cổ là Credium, có nghĩa là sự tin tƣởng, sự tín nhiệm.Mác: “Tín dụng là một quá trình chuyển nhƣợng tạm thời một lƣợng giá trị từ ngƣời sở hữu sang ngƣời sử dụng, sau một thời gian nhất định thu hồi đƣợc một lƣợng giá trị lớn hơn lƣợng giá trị ban đầu”. Đem tiền cho vay với tƣ cách là một việc với đặc điểm là sẽ quay trở về điểm xuất phát của nó, mà vẫn giữ đƣợc nguyên vẹn giá trị của nó và đồng thời lại lớn lên thêm trong quá trình vận động” (C. Các nhà kinh tế học hiện đại, đã nghiên cứu và đƣa ra rất nhiều định nghĩa khác nhau về tín dụng.
Nhà kinh tế học A.Ararit và Ksuk định nghĩa tín dụng nhƣ sau: “Tín dụng phát sinh giữa một bên (ngƣời cho vay) trao cho bên khác (ngƣời đi vay) quyền sử dụng một số tiền nhất định, trong đó ngƣời đi vay có nhiệm vụ phải trả lại số tiền vay đó đúng hạn quy định. Để có quyền sử dụng tƣ 7 bản đó, bên đi vay phải trả một khoản bồi thƣờng, tức là lợi tức”. Theo Opst và Khimt Nher, đặc trƣng của quan hệ tín dụng là “ngƣời cho vay thực hiện ngay nghĩa vụ của mình nhƣng chỉ nhận đƣợc quyền lợi trong tƣơng lai xa hơn. Những rủi ro đặc biệt của hình động tín dụng chủ yếu xuất phát từ đó”.
Theo hai cách định nghĩa này, tín dụng đƣợc hiểu là quan hệ nhƣờng quyền sử dụng tiền trong hiện tại để đổi lấy quyền hƣởng lợi tức trong tƣơng lai. Ở đây tính chất sinh lời và rủi ro của hoạt động tín dụng đƣợc nhấn mạnh. Theo Luật các tổ chức tín dụng 2010: “Cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác”. Nhƣ vậy, tín dụng phản ánh quan hệ kinh tế giữa chủ thể sở hữu và các chủ thể sử dụng nguồn vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế trên nguyên tắc hoàn trả có kỳ hạn cả vốn gốc lẫn lợi tức.
Đặc điểm Tín dụng đƣợc cấu thành nên từ sự kết hợp của ba yếu tố chính là: lòng tin (sự tin tƣởng vào khả năng hoàn trả đầy đủ và đúng hạn của ngƣời cho vay đối với ngƣời đi vay); thời hạn của quan hệ tín dụng (thời gian ngƣời vay sử dụng tiền vay); sự hứa hẹn hoàn trả. Và nhƣ vậy, phạm trù tín dụng có các đặc trƣng chủ yếu sau: - Lòng tin Bản thân từ “tín dụng” xuất phát từ tiếng la-tinh “creditum” có nghĩa là “sự giao phó” hay “sự tín nhiệm”. Nghiên cứu khái niệm tín dụng cũng cho ta thấy tín dụng là sự cho vay có hứa hẹn thời gian hoàn trả. Sự hứa hẹn biểu hiện “mức tín nhiệm” hay “lòng tin” của ngƣ-ời cho vay vào ng-ƣời đi vay.
Yếu tố lòng tin tuy vô hình nhƣng không thể thiếu trong quan hệ tín dụng, đây 8 là yếu tố bao trùm trong hoạt động tín dụng, là điều kiện cần cho quan hệ tín dụng phát sinh. Trong quan hệ tín dụng “lòng tin” đƣợc biểu hiện từ nhiều phía, không chỉ có lòng tin từ một phía của ng-ƣời cho vay đối với ngƣời đi vay. Nếu ngƣời cho vay không tin tƣởng vào khả năng hoàn trả của ngƣời đi vay thì quan hệ tín dụng có thể không phát sinh và ngƣợc lại, nếu ngƣời đi vay cảm nhận thấy ngƣời cho vay không thể đáp ứng đƣợc yêu cầu về khối lƣợng tín dụng, về thời hạn vay,…thì quan hệ tín dụng cũng có thể không phát sinh. Tuy nhiên, trong quan hệ tín dụng lòng tin của ngƣời cho vay đối với ngƣời đi vay quan trong hơn nhiều bởi lẽ ngƣời cho vay là ngƣời giao phó tiền bạc hoặc tài sản của họ cho ngƣời khác sử dụng.
- Tính thời hạn Khác với các quan hệ mua bán thông thƣờng khác, quan hệ tín dụng chỉ trao đổi quyền sử dụng giá trị khoản vay chứ không trao đổi quyền sở hữu khoản vay. Ngƣời cho vay giao giá trị khoản vay dƣới dạng hàng hoá hay tiền tệ cho ngƣời kia sử dụng trong một thời gian nhất định. Sau khi khai thác giá trị sử dụng của khoản vay trong thời hạn cam kết, ngƣời đi vay phải hoàn trả toàn bộ giá trị khoản vay cộng thêm khoản lợi tức hợp lý kèm theo nhƣ cam kết đã giao ƣớc với ngƣời cho vay. Mọi khoản vay dƣới dạng hiện vật hay tiền tệ cũng đều là hàng hoá và vì thế nó cũng có giá trị và giá trị sử dụng.
Trong kinh doanh tín dụng ngƣời cho vay chỉ bán “giá trị (hay quyền) sử dụng của khoản vay” chứ không bán “giá trị của khoản vay”, nên sau khi hết thời gian sử dụng theo cam kết, khoản vay đó đ-ƣợc hoàn trả về và vẫn giữ nguyên giá trị của nó, phần lợi tức theo thoả thuận nếu có là “giá bán” quyền sử dụng khoản vay trong thời gian nhất định. Nhƣ vậy, khối lƣợng hàng hoá hay tiền tệ (phần gốc) cho vay ban đầu chỉ là vật chuyên trở giá trị sử dụng của chúng, nó đƣợc phát ra qua các thời 9 gian nhất định rồi sẽ thu về chứ không đƣợc bán đứt. - Tính hoàn trả Đây là đặc trƣng thuộc về bản chất vận động của tín dụng và là dấu ấn để phân biệt phạm trù tín dụng với các phạm trù kinh tế khác. Sau khi kết thúc một vòng tuần hoàn của tín dụng, hoàn thành một chu kỳ sản xuất trở về trạng thái tiền tệ, vốn tín dụng đƣợc ngƣời đi vay hoàn trả cho ng-ƣời cho vay kèm theo một phần lãi nhƣ đã thoả thuận.
Một mối quan hệ tín dụng đƣợc gọi là hoàn hảo nếu đƣợc thực hiện với đầy đủ các đặc trƣng trên, nghĩa là ngƣời đi vay hoàn trả đƣợc đầy đủ gốc và lãi đúng thời hạn. Vai trò của hoạt động tín dụng của ngân hàng thƣơng mại - Thứ nhất là tín dụng là hoạt động chủ yếu mang lại nguồn thu nhập cho ngân hàng. Thu nhập từ hoạt động tín dụng đƣợc hình thành chủ yếu bởi chênh lệch giữa lãi suất cho vay với lãi suất huy động và một số các khoản phí khác theo quy định, khoản thu nhập này là phần thu nhập đáng kể trong tổng thu nhập của các NHTM. Đặc biệt ở các nƣớc chƣa có thị trƣờng vốn phát triển thì hoạt động cho vay truyền thống vẫn đƣợc coi nhƣ hoạt động bao trùm nhất trong kinh doanh của NHTM.
Do đó thu nhập từ cho vay có thể đƣợc xem nhƣ khoản thu nhập chính quyết định đến sự tồn tại và phát triển của ngân hàng. Tuy nhiên hoạt động tín dụng lại là hoạt động tiềm ẩn rủi ro lớn nhất trong kinh doanh ngân hàng nên các NHTM thƣờng rất coi trọng và nâng cao chất lƣợng quản trị rủi ro tín dụng - Thứ hai là hoạt động tín dụng góp phần đa dạng hóa sản phẩm dịch vụ của ngân hàng. Trƣớc hết chúng ta thấy quan hệ tín dụng là quan hệ lớn nhất và quan trọng nhất trong các quan hệ với khách hàng của ngân hàng. Mặt khác thông qua hoạt động tín dụng các ngân hàng có thể tạo ra nhiều sản phẩm dịch vụ tiện ích cung ứng cho chính bản thân họ.
Thông qua hoạt động 10 huy động vốn (nhất là hoạt động tiền gửi) ngân hàng có thể tạo ra nhiều sản phẩm dịch vụ tiền tệ nhƣ: dịch vụ thanh toán, dịch vụ ngân quỹ, dịch vụ thu hộ, chi hộ, dịch vụ ủy thác, bảo hiểm, các sản phẩm thẻ… và các dịch vụ tiền tệ khác có liên quan. Thông qua hoạt động cho vay ngân hàng có thể tạo ra các dịch vụ liên quan nhƣ: dịch vụ tƣ vấn, dịch vụ bảo lãnh, dịch vụ kinh doanh chứng khoán, kinh doanh ngoại tệ…Nhất là trong điều kiện nền kinh tế thị trƣờng phát triển thì hầu hết các NHTM đều xây dựng chiến lƣợc phát triển các dịch vụ ngân hàng hiện đại để lần lƣợt thay thế cho các sản phẩm kinh doanh truyền thống, và coi đây là chiến lƣợc kinh doanh chủ yếu nhất trên thị trƣờng. - Thứ ba là hoạt động tín dụng ngân hàng còn có tác động và ảnh hƣởng lớn đối với tình hình lƣu thông tiền tệ của đất nƣớc, nhờ hoạt động tín dụng ngân hàng mà vốn tiền tệ của xã hội đƣợc huy động và sử dụng tối đa cho nhu cầu phát triển kinh tế; nó vừa có tác dụng đẩy nhanh tốc độ chu chuyển vốn, vừa làm cho các chu chuyển vốn tiền tệ đƣợc tập trung phần lớn thông qua hệ thống ngân hàng. Đây là những điều kiện quan trọng để ổn định lƣu thông tiền tệ và giá cả thị trƣờng.
- Thứ tƣ là tín dụng ngân hàng có tác dụng đẩy nhanh tốc độ phát triển của nền kinh tế, cung ứng vốn với số lƣợng lớn, với nhiều thời hạn khác nhau, nhờ đó giúp các doanh nghiệp cũng nhƣ cá thể không những có vốn để kinh doanh, mà còn có vốn để mở rộng đầu tƣ, đổi mới thiết bị, nhằm nâng cao năng lực sản xuất và năng lực cạnh tranh. - Thứ năm là tín dụng ngân hàng có vai trò thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế trong xã hội.