Chương 1: Tổng quan về các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận tín dụng ngân hàng của doanh nghiệp nhỏ và vừa - Chương 2: Thực trạng khả năng tiếp cận tín dụng ngân hàng của các DNNVV trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh - Chương 3: Phương pháp và kết quả nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận tín dụng ngân hàng của các doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh - Chương 4: Một số khuyến nghị nhằm nâng cao khả năng tiếp cận tín dụng ngân hàng của các doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh 5 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƢỞNG ĐẾN KHẢ NĂNG TIẾP CẬN TÍN DỤNG NGÂN HÀNG CỦA DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA 1. Những vấn đề cơ bản về doanh nghiệp nhỏ và vừa 1. Tổng quan về doanh nghiệp 1. Khái niệm của doanh nghiệp Khoản 1 và 2 Điều 4 Luật doanh nghiệp số 60/2005/QH11 ngày 29 tháng 11 năm 2005 thì doanh nghiệp được hiểu như sau: Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh.
Kinh doanh là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi. Từ khái niệm trên chúng ta thấy: doanh nghiệp là tổ chức kinh tế vị lợi vì mục tiêu kinh doanh của họ là nhằm tối đa hóa lợi nhuận, mặc dù có một số ít các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực công ích, không hoàn toàn nhằm mục tiêu lợi nhuận. Phân loại của doanh nghiệp Trong nền kinh tế thị trường có nhiều loại hình doanh nghiệp cùng tồn tại, phát triển và cạnh tranh lẫn nhau. Tuy nhiên, để thuận lợi cho việc quản lý, hỗ trợ các doanh nghiệp phát triển, người ta thường dựa theo những tiêu thức khác nhau để phân loại các doanh nghiệp.
Dựa vào hình thức pháp lý doanh nghiệp, theo Luật Doanh nghiệp 2005 thì hình thức pháp lý của các loại hình doanh nghiệp ở Việt Nam bao gồm: Công ty trách nhiệm hữu hạn (bao gồm công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên và công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên) là doanh nghiệp mà các thành viên trong công ty chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn điều lệ của công ty. 6 Công ty cổ phần là doanh nghiệp mà vốn điều lệ của công ty được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần. Cá nhân hay tổ chức sở hữu cổ phần của doanh nghiệp được gọi là cổ đông và chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp. Công ty hợp danh là doanh nghiệp trong đó có ít nhất hai thành viên là chủ sở hữu của công ty, cùng kinh doanh dưới một cái tên chung (gọi là thành viên hợp danh).
Thành viên hợp danh phải là cá nhân và chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về các nghĩa vụ của công ty. Ngoài ra trong công ty hợp danh còn có các thành viên góp vốn. Doanh nghiệp tư nhân là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp. Mỗi cá nhân chỉ được quyền thành lập một doanh nghiệp tư nhân.
Dựa vào lĩnh vực hoạt động kinh doanh, các doanh nghiệp có thể được chia thành: doanh nghiệp tài chính và doanh nghiệp phi tài chính. Doanh nghiệp tài chính là doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực tài chính, là các tổ chức tài chính trung gian như các ngân hàng thương mại, các công ty tài chính, các công ty bảo hiểm… Những doanh nghiệp này cung ứng cho nền kinh tế các dịch vụ tài chính, tiền tệ, bảo hiểm… Doanh nghiệp phi tài chính là các doanh nghiệp lấy hoạt động sản xuất kinh doanh các hàng hóa và dịch vụ thông thường là chủyếu. Dựa vào quy mô kinh doanh người ta chia doanh nghiệp thành doanh nghiệp lớn, doanh nghiệp vừa và doanh nghiệp nhỏ. Việc quy định tiêu thức như thế nào là doanh nghiệp lớn, DNNVV là tùy thuộc vào điều kiện kinh tế, xã hội của từng nước trong từng giai đoạn cụthể.
Thông thường những tiêu thức được lựa chọn là: Số lượng cán bộ công nhân viên bình quân, vốn đầu tư, tổng tài sản, doanh thu tiêu thụ. Riêng ở Việt Nam hiện nay thì căn cứ vào hai tiêu thức là số lao động làm việc bình quân và tổng nguồn 7 vốn để phân loại doanh nghiệp thành siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp vừa. Việc phân loại theo tiêu thức này nhằm giúp cho Nhà nước có những chiến lược và những chính sách hợp lý nhằm hỗ trợ phát triển các DNNVV trong từng thời kỳ, từng giai đoạn phát triển kinh tế xã hội cụ thể, đặc biệt là trong lúc nền kinh tế đang gặp nhiều khó khăn như lạm phát, khủng hoảng …. Tiêu chuẩn doanh nghiệp nhỏ và vừa Tiêu chuẩn phân loại DNNVV thường dựa trên hai quan điểm: “kinh tế” và “thống kê”.
Theo quan điểm“kinh tế”, một công ty được đánh giá là nhỏ nếu nó đáp ứng ba tiêu chí sau đây: (1) nó chiếm một phần tương đối nhỏ trong thị trường của nó; (2) nó được sở hữu bởi những cá nhân và không được quản lý bởi một cơ cấu chính thức; (3) nó hoạt động độc lập và không phải là một bộ phận của một doanh nghiệp lớn hơn. Quan điểm“thống kê” về DNNVV thì căn cứ trên ba khía cạnh chính: (1) xác định lượng đóng góp của doanh nghiệp vào GDP, việc làm và xuất khẩu; (2) so sánh mức độ đóng góp vào nền kinh tế quốc gia của các công ty này theo thời gian; (3) mở rộng phạm vi so sánh trên bình diện giữa các quốc gia. Tuy nhiên, cả hai quan điểm đều phát sinh một số điểm yếu, chẳng hạn như theo quan điểm kinh tế cho rằng một doanh nghiệp nhỏ được sở hữu bởi những cá nhân và không được quản lý bởi một cơ cấu chính thức, không phù hợp với quan điểm thống kê khi mà một công ty chỉ sản xuất quy mô nhỏ nhưng có đến hơn 200 nhân viên. Theo Tổ Chức Công Nghiệp Liên Hợp Quốc (UNIDO - UN Industrial Development Organization), định nghĩa một DNNVV là một vấn đề quan trọng cho sự phát triển của một quốc gia, phụ thuộc nhiều vào mục đích, định hướng phát triển.
Tùy vào chính sách phát triển khác nhau mà UNIDO tư vấn cho các nước những tiêu chuẩn định lượng, định tính để định nghĩa một DNNVV. Dưới đây là bảng tóm tắt các chỉ tiêu chính có thể được sử dụng để phân biệt giữa DNNVV và các doanh nghiệp lớn.1 Những tiêu chuẩn định tính để phân loại doanh nghiệp Nội dung Doanh nghiệp nhỏ và vừa Doanh nghiệp lớn Quản lý Chủ doanh nghiệp là cá nhân Có bộ máy quản lý công ty Có sự kiêm nhiệm các chức Có sự phân chia chức năng năng trong công ty rõ ràng giữa các bộ phận Nhân viên Không có bằng cấp chuyên Có bằng cấp chuyên môn môn Có sự chuyên môn hóa trong Có kiến thức tổng quát kiến thức lẫn công việc Tổ chức Liên lạc chủ yếu thông qua tư Thông tin truyền thông mang cách cá nhân tính chính thức Bán hàng Vị thế cạnh tranh không xác Vị thế cạnh tranh mạnh định và không chắc chắn Mối quan hệ với Không ổn định Có mối quan hệ dài hạn vững người mua chắc Năng suất Căn cứ chủ yếu vào lao động Căn cứ chủ yếu vào nguồn vốn, quy mô kinh tế Nghiên cứu phát Tiếp cận trực quan, hoàn toàn Có khả năng tác động mạnh triển phụ thuộc vào thị trường mẽ đến thị trường Tài chính Phụ thuộc vào ngân sách của Cơ cấu sở hữu đa dạng, tiếp cá nhân, gia đình cận với cả thị trường vốn bên ngoài [Nguồn: UNIDO] Tiêu chuẩn phân loại DNNVV phần lớn được quyết định bởi mục đích thiết lập tiêu chuẩn. Mục đích thường gặp nhất là nắm vững được tình hình hoạt động kinh doanh, kết cấu tỷ lệ của các doanh nghiệp ở các quy mô khác nhau trong nền kinh tế quốc dân đồng thời tiến hành quản lý các doanh nghiệp đó về phương diện hành chính, kinh tế và pháp luật… Ở nhiều quốc gia, tiêu chuẩn phân loại DNNVV ở các ngành khác nhau cũng có những khác biệt nhất định. Dưới đây là bảng tiêu chuẩn phân định DNNVV của một số quốc gia và vùng lãnh thổ trong khu vực và trên thế giới: 9 Bảng 1.2 Tiêu chuẩn phân định doanh nghiệp nhỏ và vừa của một số vùng lãnh thổ trên thế giới Vùng kinh tế mới nổi EU USA ASIA(Mlysia) EGYPT GHANA BRAZIL RUSSIA INDIA CHINA Công Thƣơng nghiệp mại Cách gọi Small and Small Small and Micro, Small and Small and Small and Small and Micro, Small and Medium and Medium Small and Medium Medium Medium Medium Small and Medium Enterprise Medium Enterprise Medium Enterprise Enterprise Enterprise Enterprise Medium Enterprise Business Enterprise Enterprise Số ngƣời lao động Siêu nhỏ < 10 0 <5 1–4 Đến 5 Đến 19 Đến 9 0 0 0 Nhỏ < 50 < 100 5 – 50 5 – 14 6 – 29 20 – 99 10 – 49 15 – 100 0 < 300 Vừa < 250 < 500 51 – 150 15 – 49 30 – 99 100 – 499 50 – 99 101 – 250 0 300 – 2000 Doanh thu Siêu nhỏ 3 triệu $ 0 250.000 $ 0 0 0 < 50 triệu 0 Rs Nhỏ 13 triệu $ 0 < 10 triệu RM 0 100.000 $ 0 0 ≤ 400 ≤ 60 triệu < 30 Y triệu RUB Rs Vừa 67 triệu $ 0 Đến 25 triệu 0 1 triệu $ 0 0 ≤ 1 tỷ ≤ 99 triệu ≤ 300 RM RUB Rs triệu Y [Nguồn: Literature Review, tr.23] Ở Việt Nam, tiêu chí phân loại DNNVV được quy định tại Khoản 1, Điều 3, Nghị định số 56/2009/NĐ-CP ngày 30/6/2009 của Chính phủ về Định nghĩa DNNVV: DNNVV là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật, được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu tiên), cụ thể như sau: Bảng 1.