Chương 1: Cơ sở lý luận về phát triển cho Doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Ngân hàng thương mại. Chương 2: Thực trạng vay Doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Ngân hàng ngoại thương Lào (BCEL). Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả cho vay Doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Ngân hàng ngoại thương Lào (BCEL). 6 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHO VAY DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.1 Khái quát chung về Doanh nghiệp nhỏ và vừa 1.
Khái niệm về Doanh nghiệp nhỏ và vừa Doanh nghiệp vừa và nhỏ là tên gọi tắt của doanh nghiệp siêu nhỏ, nhỏ và vừa được đánh giá theo tiêu chí về vốn, nguồn nhân công lao động và doanh thu sản phẩm. Theo tiêu chí của Nhóm Ngân hàng Thế giới, doanh nghiệp siêu nhỏ là doanh nghiệp có số lượng lao động dưới 10 người, doanh nghiệp nhỏ có số lượng lao động từ 10 đến dưới 200 người và nguồn vốn 20 tỉ trở xuống, còn doanh nghiệp vừa có từ 200 đến 300 lao động nguồn vốn 20 đến 100 tỉ. Ở Việt Nam doanh nghiệp vừa là có từ 200 đến 300 nhân công lao động, từ 10 đến 20 người lao động là doanh nghiệp nhỏ và dưới 10 người được coi là doanh nghiệp siêu nhỏ. Doanh nghiệp vừa và nhỏ là tên viết tắt của doanh nghiệp siêu nhỏ, nhỏ và vừa, được xếp loại và đánh giá dựa trên tiêu chí về nguồn nhân công, doanh thu sản phẩm và vốn.
Căn cứ vào Điều 6 Nghị định 39/2018/NĐ-CP Việt Nam, doanh nghiệp siêu nhỏ trong lĩnh vực thủy sản, lâm nghiệp, nông nghiệp và công nghiệp là doanh nghiệp có số người lao động tham gia đóng bảo hiểm xã hội bình quân không quá 10 người và tổng doanh thu cả năm của doanh nghiệp không quá 3 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn của doanh nghiệp không quá 3 tỷ đồng. Doanh nghiệp siêu nhỏ trong lĩnh vực dịch vụ, thương mại là doanh nghiệp có số người lao động tham gia đóng bảo hiểm xã hội bình quân không quá 10 người và tổng doanh thu cả năm của doanh nghiệp không quá 10 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn của doanh nghiệp không quá 3 tỷ đồng. Doanh nghiệp nhỏ trong lĩnh vực thủy sản, lâm nghiệp, nông nghiệp và công nghiệp là doanh nghiệp mà có số người lao động tham gia đóng bảo hiểm xã hội không quá 100 người và tổng doanh thu cả năm của doanh nghiệp không quá 50 tỷ 7 đồng hoặc tổng nguồn vốn của doanh nghiệp không quá 20 tỷ đồng, nhưng không phải là doanh nghiệp siêu nhỏ. Doanh nghiệp nhỏ trong lĩnh vực dịch vụ, thương mại là doanh nghiệp mà có số người lao động tham gia đóng bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 50 người và tổng doanh thu cả năm của doanh nghiệp không quá 100 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn của doanh nghiệp không quá 50 tỷ đồng, nhưng không phải là doanh nghiệp siêu nhỏ.
Doanh nghiệp vừa trong lĩnh vực thủy sản, lâm nghiệp, nông nghiệp và công nghiệp là doanh nghiệp có số người lao động tham gia đóng bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 200 người và tổng doanh thu cả năm của doanh nghiệp không quá 200 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn của doanh nghiệp không quá 100 tỷ đồng, nhưng không phải là doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ. Doanh nghiệp vừa trong lĩnh vực dịch vụ, thương mại là doanh nghiệp mà có số người lao động tham gia đóng bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 100 người và tổng doanh thu cả năm của doanh nghiệp không quá 300 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn của doanh nghiệp không quá 100 tỷ đồng, nhưng không phải doanh nghiệp nhỏ, doanh nghiệp siêu nhỏ. Theo khoản 12, điều 8 Luật Doanh nghiệp 2019 của Lào có nêu định nghĩa: “Doanh nghiệp là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh”. Theo quy định tại Điều 5 Nghị định Số: 16/2015/NĐ-CP Lào ngày 30/05/2015 của chính phủ Lào thì DNNVV là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật, được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu tiên), cụ thể bảng 1.
Theo quy định tại Điều 5 Nghị định Số: 16/2015/NĐ-CP ngày 30/05/2015 của chính phủ Lào thì DNNVV là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật, được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn 8 vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu tiên), cụ thể bảng 1.1: Tiêu chí xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Lào Doanh nghiệp siêu Doanh nghiệp nhỏ Doanh nghiệp vừa Quy mô Khu vực nhỏ Số lao Tổng Số lao Tổng nguồn Số lao động động nguồn vốn động vốn từ trên 10 từ trên 10 tỷ từ trên 200 I. Nông, lâm nghiệp 10 người 10 tỷ Kip người đến Kip đến người đến và thủy sản trở xuống trở xuống 200 người 500 tỷ đồng 300 người từ trên 10 từ trên 10 tỷ từ trên 200 II. Công nghiệp và 10 người 10 tỷ Kip người đến Kip đến người đến xây dựng trở xuống trở xuống 200 người 50 tỷ Kip 300 người từ trên 10 từ trên 5 tỷ từ trên 50 III. Thương mại và 10 người 5 tỷ Kip người đến Kip đến 25 người đến dịch vụ trở xuống trở xuống 50 người tỷ Kip 100 người (Nguồn: Nghị định Số: 16/2015/NĐ-CP ngày 30/05/2015 của chính phủ Lào) Tùy theo tính chất, mục tiêu của từng chính sách, chương trình trợ giúp mà cơ quan chủ trì có thể cụ thể hóa các tiêu chí nêu trên cho phù hợp.2 Đặc điểm của doanh nghiệp nhỏ và vừa - Doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm đa số trong tổng số doanh nghiệp Doanh nghiệp nhỏ và vừa có mặt ở khắp nơi trên tất cả các lĩnh vực của cuộc sống, xã hội.
Khả năng linh hoạt trong việc chuyển đổi ngành nghề, tăng giảm quy mô, số lượng lao động. - Quy mô nhỏ Các DNNVV có quy mô nguồn vốn dưới 100 tỷ đồng, số người lao động dưới 100 người đối với ngành dịch vụ, dưới 200 người đối với nhóm ngành Nông, Lâm nghiệp, Thủy sản và nhóm ngành Công nghiệp và xây dựng. Như vậy DNNVV là những doanh nghiệp có quy mô nhỏ về nguồn vốn, số lượng lao động, có mô hình quản lý đơn giản, chi phí quản lý, chi phí đào tạo không lớn và luôn trong tình trạng thiếu vốn cho mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh, đầu tư cải tiến máy móc hay 9 thực hiện các dự án của doanh nghiệp. Tuy nhiên với quy mô nhỏ và mức độ đầu tư không lớn, tính linh hoạt cao rất phù hợp cho phát triển dân doanh.
DNNVV là phương thức phù hợp và hữu hiệu để huy động nguồn lực từ dân cho phát triển kinh tế. Chính bởi quy mô nhỏ, nên hoạt động của khu vực DN này đang gặp khá nhiều khó khăn, như là khả năng tiếp cận các nguồn vốn để đầu tư vào máy móc, công nghệ hiện đại, phục vụ cho sản xuất, kinh doanh; thiếu kinh nghiệm quản trị điều hành DN; khả năng cạnh tranh, chiếm lĩnh thị trường ngay trên thị trường nội địa. (Đinh Xuân Hạng, 2012) - Tính linh hoạt cao DNNVV có khả năng đầu tư đa dạng và linh hoạt. Điều này được thể hiện ở việc DNNVV có nguồn vốn thấp do đó dễ chuyển đổi loại hình kinh doanh, phương án đầu tư, “sử dụng linh hoạt các loại máy móc thiết bị, có thể dễ dàng thay đổi công nghệ, đổi mới trang thiết bị với chi phí không quá lớn, kết hợp được cả công nghệ truyền thống và hiện đại.
Mặt khác, lĩnh vực sản xuất kinh doanh của các DNNVV thường hướng tới phục vụ trực tiếp đời sống xã hội chủ yếu là đầu tư vào các sản phẩm có sức mua cao, nhạy cảm với biến động của thị trường và khả năng phản ứng lại thị trường linh hoạt, chuyển đổi nhanh mặt hàng phù hợp thị hiếu người tiêu dùng.” - Bộ máy tổ chức hoạt động đơn giản: Do quy mô nhỏ và số lượng lao động không nhiều nên việc tổ chức sản xuất cũng như bộ máy quản lý của DNNVV gọn nhẹ, đơn giản. “Không có sự phân tầng rõ rệt giữa các phòng ban và tính chuyên môn hoá chưa cao. Tuy nhiên đây cũng là 1 lợi thế của DNNVV do chi phí cho hoạt động tổ chức, quản lý tương đối thấp, thời gian đưa ra quyết định và truyền đạt ý tưởng từ lãnh đạo tới công nhân viên nhanh chóng và hiệu quả, không phải qua nhiều khâu trung gian.” - Năng lực tài chính còn yếu: Có DNNVV hiện nay chưa thực sự chú trọng đến tính minh bạch và hiệu quả của hoạt động tài chính trong doanh nghiệp. “Lý do trước hết là do trình độ quản lý và quan điểm của ban quản trị chưa quan tâm đúng mức tới vai trò của hoạt động tài 10 chính của doanh nghiệp.
Thông thường các DNNVV đầu tư rất lớn về sản xuất, marketing, bán hàng.Nhưng lại lơ là về vấn đề tài chính hoặc trao toàn bộ cho bộ phận kế toán. - Khả năng tiếp cận nguồn vốn thấp: Nguồn vốn chủ yếu của các DNNVV thường là vốn tự có hoặc vốn vay trên thị trường phi tài chính. Cùng với các kênh trên, khá nhiều chương trình, dự án hỗ trợ tín dụng nói chung và hỗ trợ tín dụng cho DNNVV nói riêng đã được xây dựng và triển khai như: Chương trình ưu đãi tài chính cho ngành công nghiệp hỗ trợ; Chương trình bảo lãnh vay vốn cho dự án sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả tại các DNNVV từ Quỹ Phát triển khoa học và công nghệ quốc gia. Số lượng vay vốn ngân hàng hiện nay vẫn còn rất thấp so với nhu cầu của doanh nghiệp.
Điều này được giải thích là do nhiều nguyên nhân nhưng nhìn chung do năng lực tài chính của doanh nghiệp chưa cao, tài sản thế chấp không đáp ứng được yêu cầu của ngân hàng. Điều này sẽ dẫn đến doanh nghiệp thiếu mặt bằng sản xuất kinh doanh, thiếu vốn đầu tư cho sản xuất, đổi mới công nghệ, khó khăn cho mở rộng thị trường.