Chương 1: Những vấn đề cơ bản về chất lượng hoạt động cho vay Khách hàng doanh nghiệp của Ngân hàng thương mại Chương 2: Thực trạng về chất lượng hoạt động cho vay Khách hàng doanh nghiệp tại Ngân hàng TMCP Đại Chúng Việt Nam – Chi nhánh Hai Bà Trưng Chương 3: Giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động cho vay Khách hàng doanh nghiệp tại Ngân hàng TMCP Đại Chúng Việt Nam – Chi nhánh Hai Bà Trưng 5 CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CHẤT LƢỢNG HOẠT ĐỘNG CHO VAY ĐỐI VỚI KHÁCH HÀNG DOANH NGHIỆP CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Khái quát về hoạt động cho vay khách hàng doanh nghiệp tại Ngân hàng thƣơng mại 1. Khái niệm hoạt động cho vay Theo khoản 14 và 16, điều 4, luật các TCTD năm 2010: “Cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác.” “Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi.” Nhƣ vậy hoạt động cho vay KHDN là một trong những hình thức NHTM cấp tín dụng nhằm tài trợ cho nhu cầu tài chính của doanh nghiệp. Nguồn vốn này giúp cho doanh nghiệp thực hiện các mục đích: SXKD, thƣơng mại, dịch vụ, đầu tƣ tài sản cố định,… (mục đích, quy trình, thời hạn sử dụng vốn đã đƣợc thỏa thuận giữa hai bên) Một số đặc điểm của hoạt động cho vay đối với KHDN tại NHTM: Thứ nhất, Quy mô khoản vay lớn đem lại lợi nhuận cao cho NH.
Hoạt động cho vay KHDN của NHTM đƣợc thực hiện dựa trên các nhu cầu về nguồn vốn SXKD, thƣơng mại, xây dựng công trình, các dự án đầu tƣ phát triển,… của doanh nghiệp Quy mô các khoản vay nhằm mục đích xây dựng công trình, đầu tƣ tài sản cố định thƣờng có giá trị rất lớn lên tới hàng tr m tỷ đồng, lớn gấp nhiều lần so với giá trị của các khoản tín dụng khác Ngoài thu lãi từ việc cung cấp vốn vay cho các doanh nghiệp, các NHTM còn thu thêm đƣợc nhiều khoản phí dịch vụ 6 khác đi kèm nhƣ phí thanh toán, chuyển tiền quốc tế, các loại phí liên quan đến thƣ tín dụng (L/C). Thứ hai, do khoản vay có giá trị thƣờng lớn nên cho vay đối với KHDN có mức độ rủi ro tƣơng đối cao. Hiện nay trên thị trƣờng, mức độ cạnh tranh giữa các doanh nghiệp là rất gay gắt, đồng thời hoạt động SXKD chịu ảnh hƣởng rất lớn từ các yếu tố giá cả, cung cầu Vì vậy rủi ro luôn thƣờng trực đối với hoạt động của doanh nghiệp, kể cả các rủi ro mang tính chất chủ quan (rủi ro hoạt động, rủi ro đạo đức) hay các rủi ro mang tính chất khách quan nhƣ rủi ro về giá, rủi ro chính sách hay rủi ro về các điều kiện tự nhiên Thứ ba, chi phí cho mỗi khoản cho vay KHDN là khá lớn do đối tƣợng khách hàng doanh nghiệp có sự đa dạng về ngành nghề, lĩnh vực hoạt động SXKD nên ngân hàng phải bỏ nhiều chi phí cho công tác thẩm định và xét duyệt cho vay cũng nhƣ chi phí quản lý sau cho vay Chính vì thế cho vay đối với KHDN trở thành một khoản mục có chi phí lớn trong các khoản mục tín dụng của ngân hàng Thứ tƣ, các quy định, quy trình và chính sách cho vay đối với KHDN yêu cầu sự nghiêm ngặt, chặt chẽ do đó cán bộ tín dụng cần phải có chuyên môn nghiệp vụ tốt Việc thẩm định, quyết định cho vay lâu hơn, phức tạp hơn nhằm đảm bảo chất lƣợng khoản vay, hạn chế tối đa rủi ro cho các ngân hàng 1. Phân loại hoạt động cho vay Căn cứ theo thời hạn vay Cho vay ngắn hạn: là loại hình cho vay cấp cho DN với thời hạn cho vay không vƣợt quá 12 tháng Cho vay ngắn hạn chính là việc các NHTM tài trợ cho nhu cầu về vốn lƣu động của doanh nghiệp bên cạnh việc sử dụng nguồn vốn tự có của doanh nghiệp đó.
Nhờ có nguồn vốn vay ngắn hạn này, các DN có thể duy trì hoặc mở rộng thêm hoạt động SXKD, hoặc tận dụng đƣợc thời cơ kinh doanh mới, hiệu quả sử dụng vốn trong nền kinh tế sẽ đƣợc nâng cao Cho vay ngắn hạn có thời hạn vay ngắn hơn, nguồn trả nợ đƣợc xác định rõ ràng hơn nên có độ rủi ro thấp hơn so với các khoản vay trung dài hạn, do đó lãi suất đối với khoản vay ngắn hạn sẽ thấp hơn 7 Cho vay trung dài hạn: bao gồm 2 hình thức là cho vay đối với DN trung hạn (thời hạn cho vay từ trên 12 tháng đến 60 tháng) và cho vay đối với DN dài hạn (thời hạn cho vay từ 60 tháng trở lên) Mục đích chính là đầu tƣ nhà xƣởng, máy móc thiết bị hay phƣơng tiện vận tải,… (gọi chung tài sản cố định) của DN. Cho vay trung dài hạn lãi suất cho vay cao, NH thu đƣợc lợi nhuận lớn tuy nhiên do thời hạn dài, rủi ro tín dụng là khá cao Căn cứ vào quy mô doanh nghiệp - Cho vay KHDN lớn: đây là đối tƣợng khách hàng hàng đầu trong khối KHDN, đƣợc các NHTM đặc biệt quan tâm và ƣu đãi NH sẽ gặp ít rủi ro hơn khi cho vay các DN lớn nhờ vị thế và uy tín của DN trên thị trƣờng nhƣng lãi suất NH đƣợc hƣởng sẽ không cao do phải cạnh tranh với các NH khác Cũng chính vì áp lực cạnh tranh mà đôi khi Ngân hàng là bên phải nhƣợng bộ trong quá trình quan hệ tín dụng. - Cho vay KHDN vừa và nhỏ: DN vừa và nhỏ chiếm đại đa số trong tổng số DN và là nguồn khách hàng dồi dào, phong phú để các NHTM khai thác, tiếp cận. Rủi ro cho NH khi cấp tín dụng cho loại hình DN này là khá cao do quy mô doanh nghiệp không lớn và phải cạnh tranh rất gay gắt với các doanh nghiệp khác trên thị trƣờng để tồn tại nên tỷ lệ doanh nghiệp hoạt động thực sự có hiệu quả là không cao Căn cứ vào hình thức cho vay Theo điều 16 Phƣơng thức cho vay tại Quy chế cho vay của tổ chức tín dụng theo quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31/12/2001 của Ngân hàng Nhà nƣớc: “Tổ chức tín dụng thoả thuận với khách hàng vay việc áp dụng các phƣơng thức cho vay: 1- Cho vay từng lần; Mỗi lần vay vốn khách hàng và tổ chức tín dụng thực hiện thủ tục vay vốn cần thiết và ký kết hợp đồng tín dụng.
2- Cho vay theo hạn mức tín dụng: Tổ chức tín dụng và khách hàng xác định và thoả thuận một hạn mức tín dụng duy trì trong một khoảng thời gian nhất đình 3- Cho vay theo dự án đầu tƣ Tổ chức tín dụng cho khách hàng vay vốn để thực hiện các dự án đầu tƣ phát triển sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và các dự án đầu tƣ phục vụ đời sống. 8 4- Cho vay hợp vốn: Một nhóm tổ chức tín dụng cùng cho vay đối với một dự án vay vốn hoặc phƣơng án vay vốn của khách hàng; trong đó, có một tổ chức tín dụng làm đầu mối dàn xếp, phối hợp với các tổ chức tín dụng khác Việc cho vay hợp vốn thực hiện theo quy định của Quy chế này và Quy chế đồng tài trợ của các tổ chức tín dụng do Thống đốc Ngân hàng Nhà nƣớc ban hành 5- Cho vay trả góp; Khi vay vốn, tổ chức tín dụng và khách hàng xác định và thoả thuận số lãi vốn vay phải trả cộng với số nợ gốc đƣợc chia ra để trả nợ theo nhiều kỳ hạn trong thời hạn cho vay. 6- Cho vay theo hạn mức tín dụng dự phòng: Tổ chức tín dụng cam kết đảm bảo sẵn sàng cho khách hàng vay vốn trong phạm vi hạn mức tín dụng nhất định. Tổ chức tín dụng và khách hàng thoả thuận thời hạn hiệu lực của hạn mức tín dụng dự phòng, mức phí trả cho hạn mức tín dụng dự phòng 7- Cho vay thông qua nghiệp vụ phát hành và sử dụng thẻ tín dụng : Tổ chức tín dụng chấp thuận cho khách hàng đƣợc sử dụng số vốn vay trong phạm vi hạn mức tín dụng để thanh toán tiền mua hàng hoá, dịch vụ và rút tiền mặt tại máy rút tiền tự động hoặc điểm ứng tiền mặt là đại lý của tổ chức tín dụng Khi cho vay phát hành và sử dụng thẻ tín dụng, tổ chức tín dụng và khách hàng phải tuân theo các quy định của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nƣớc Việt Nam về phát hành và sử dụng thẻ tín dụng.
8- Cho vay theo hạn mức thấu chi: Là việc cho vay mà tổ chức tín dụng thoả thuận bằng v n bản chấp thuận cho khách hàng chi vƣợt số tiền có trên tài khoản thanh toán của khách hàng phù hợp với các quy định của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nƣớc Việt Nam về hoạt động thanh toán qua các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán 9- Các phƣơng thức cho vay khác mà pháp luật không cấm, phù hợp với quy định tại Quy chế này và điều kiện hoạt động kinh doanh của tổ chức tín dụng và đặc điểm của khách hàng vay ” Căn cứ vào hình thức bảo đảm tiền vay: - Cho vay có tài sản đảm bảo: là hình thức cho vay mà khoản vay của KHDN 9 đƣợc đảm bảo bằng các tài sản thông qua các hình thức thế chấp, cầm cố, bảo lãnh của bên thứ ba. Các khoản cho vay dựa trên loại này thƣờng đảm bảo an toàn cho ngân hàng nhƣng làm cho thời gian phân tích ra quyết định cho vay kéo dài do phát sinh thêm thời gian thực hiện các thủ tục định giá, thế chấp tài sản.