CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CÔNG TÁC ĐỊNH GIÁ TÀI SẢN THẾ CHẤP TRONG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 Tài sản thế chấp trong hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại 1.1 Khái niệm tài sản thế chấp trong hoạt động tín dụng của các ngân hàng thương mại Tài sản thế chấp thường được mô tả theo các tiêu chí: bất cứ tài sản nào cũng có thể là tài sản thế chấp trừ trường hợp pháp luật cấm hoặc các bên không thỏa thuận lựa chọn; là đối tượng trong hợp đồng thế chấp có mục đích bảo đảm cho việc thực hiện nghĩa vụ; thuộc sở hữu của bên thế chấp; không chuyển giao tài sản cho bên thế chấp. Tại Nhật Bản: “Người nhận thế chấp có quyền ưu tiên so với các chủ nợ khác trong việc đáp ứng yêu cầu của mình từ tài sản mà bên nợ hoặc người thứ ba đưa ra như một biện pháp bảo đảm trái vụ và không chuyển giao quyền chiếm hữu nó”. Cũng với cách tiếp cận đó, tại Pháp: “Thế chấp là một quyền tài sản đối với tài sản được sử dụng để bảo đảm nghĩa vụ”. Ở bang Floria (Mỹ): “Bất kỳ một công cụ hay một cách thức nào mà sử dụng tài sản làm vật bảo đảm đều được coi là thế chấp.
Thế chấp là một sự bảo đảm bằng đất cho việc hoàn trả khoản tiền vay”. Như vậy, tài sản thế chấp luôn đi song hành cùng khái niệm thế chấp, như là vấn đề cốt yếu của biện pháp thế chấp. Dưới góc độ nghiên cứu lý luận, việc xây dựng một khái niệm về tài sản thế chấp là cần thiết để hoàn thiện hơn nữa hệ thống các quy định pháp luật về thế chấp tài sản. Khái niệm tài sản thế chấp được tìm hiểu với các cách tiếp cận khác nhau: Thứ nhất, khái niệm tài sản thế chấp được tiếp cận dưới góc độ là đối tượng của hợp đồng thế chấp.
Liên quan đến vấn đề này hiện còn có các cách tìm hiểu luan an 14 khác nhau: Cách hiểu thứ nhất cho rằng “đối tượng của hợp đồng thế chấp là quyền sở hữu tài sản thế chấp”. Nếu coi quyền sở hữu tài sản là đối tượng của thế chấp thì sẽ làm phát sinh các hậu quả pháp lý như: bên thế chấp tài sản sẽ bị mất quyền sở hữu đối với tài sản thế chấp trong thời gian thế chấp, không được quyền chiếm hữu, khai thác, sử dụng hay bán tài sản thế chấp cho người khác. Cách hiểu thứ hai cho rằng, đối tượng của hợp đồng thế chấp là giá trị của tài sản thế chấp. Nếu căn cứ vào lý luận về điều kiện của đối tượng hợp đồng thì quan điểm này chưa thực sự thỏa mãn bởi đối tượng của hợp đồng phải là vật xác định được hoặc ít ra là có thể xác định được - các yếu tố cho phép xác định đối tượng cần phải cụ thể, chi tiết.
Nếu chỉ quy chiếu đến giá cả trên thị trường địa phương thì chưa đủ yếu tố xác định đối tượng của một hợp đồng. Do đó, giá trị của tài sản chỉ là một yếu tố thuộc về đối tượng chứ không thể là đối tượng của hợp đồng thế chấp. Như vậy, mỗi cách hiểu trên đều bộc lộ những điểm chưa hợp lý khi tiếp cận khái niệm tài sản thế chấp dưới giác độ là đối tượng của hợp đồng. Theo tác giả, cách hiểu hợp lý và khoa học hơn cả, đó là: đối tượng của hợp đồng thế chấp đó chính là tài sản thế chấp, chứ không phải quyền sở hữu tài sản thế chấp cũng như không phải giá trị của tài sản thế chấp.
Bởi chỉ có tài sản thế chấp mới đáp ứng được các điều kiện cơ bản của đối tượng của hợp đồng là tài sản và có tính cụ thể, tính xác định, có thể chuyển giao trong các giao lưu dân sự. Xuất pháp từ bản chất của thế chấp như đã phân tích ở trên, tác giả có cách nhìn dung hòa cả hai cách tiếp cận trên. Cụ thể: Trước hết, tài sản thế chấp phải là đối tượng của hợp đồng thế chấp bởi hợp đồng thế chấp là hình thức ghi nhận sự thỏa mãn của các bên trong việc lựa chọn tài sản thế chấp. Nhưng để bên nhận thế chấp có đầy đủ các quyền năng trên tài sản thế chấp thì bên thế chấp phải “ hoàn thiện” quyền của mình thông qua đăng ký công bố quyền trên tài sản thế chấp.
Trong trường hợp thế chấp toàn bộ hoặc thế chấp một phần bất động sản, động sản có vật phụ thì vật phụ của bất động sản, động sản đó cũng thuộc tài sản thế chấp, trừ trường hợp các bên có thoả thuận khác. Tài sản thế chấp cũng có thể là tài luan an 15 sản được hình thành trong tương lai. Tài sản thế chấp do bên thế chấp giữ. Các bên liên quan có thể thỏa thuận giao cho bên thứ ba giữ tài sản thế chấp.
Đối với việc giao dịch đảm bảo trong các NHTM thì tài sản thế chấp thường được định nghĩa như sau: tài sản thế chấp là tài sản thuộc quyền sở hữu, sử dụng hợp pháp của khách hàng vay, của bên bảo lãnh để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trả nợ đối với ngân hàng cho vay và không chuyển giao tài sản đó cho ngân hàng. Các bên có thể thoả thuận giao cho bên thứ ba giữ tài sản. Trên cơ sở phân tích toàn diện các khía cạnh pháp lý của tài sản thế chấp, khái niệm về tài sản thế chấp được hiểu như sau: Tài sản thế chấp là vật hoặc quyền được các chủ thể thỏa thuận lựa chọn để bảo đảm quyền của các bên nhận thế chấp khi có sự vi phạm nghĩa vụ được bảo đảm. Tín dụng là hoạt động mang lại nguồn thu chủ yếu cho ngân hàng nhưng đây cũng là hoạt động chứa đựng nhiều rủi ro và phức tạp.
Đối với các ngân hàng thương mại, hoạt động định giá tài sản thế chấp có ý nghĩa quan trọng, là cơ sở cho việc ra quyết định cho vay, đầu tư, góp vốn, cấp vốn vào các dự án, góp phần hạn chế nợ xấu và rủi ro tín dụng. Khi cho khách hàng vay vốn, mục đích mà các TCTD hướng đến là lợi nhuận, mà lợi nhuận ở đây chỉ có thể có được khi khách hàng hoàn trả vốn vay và lãi suất. Để phòng ngừa mọi rủi ro có thể xảy ra, các TCTD buộc phải áp dụng các biện pháp bảo đảm tiền vay để bảo toàn nguồn vốn cho vay. Trong trường hợp khách hàng không có khả năng hoàn trả phần vốn vay do hoạt động sản xuất kinh doanh của họ gặp khó khăn hoặc lâm vào tình trạng phá sản thì các TCTD có thể thu hồi được vốn cho vay thông qua tài sản mà bên vay đã dùng để bảo đảm với bên cho vay.
Khi tham gia vào các quan hệ tín dụng, các bên có quyền thoả thuận về tài sản bảo đảm theo quy định của pháp luật. Chính vì có sự thoả thuận đó mà các TCTD đã nắm được quyền kiểm soát về tài sản của khách hàng trong thời gian khách hàng vay vốn. Nếu vì một lý do nào đó mà một trong hai bên vi phạm các luan an 16 cam kết thì bên kia cũng có cơ sở pháp lý để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bên được pháp luật bảo vệ, hạn chế được các tranh chấp xảy ra. Khi các quan hệ tín dụng này đi vào hoạt động theo hành lang pháp lý của nó thì sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của nền kinh tế và của cả xã hội.
Như đã phân tích, tài sản thế chấp có vai trò tạo cơ sở bảo đảm an toàn cho hoạt động cho vay của các TCTD và cũng chính vì lý do này mà bảo đảm tiền vay có ý nghĩa trong việc kích thích hoạt động cho vay của các TCTD. Bởi vì, khi áp dụng các biện pháp cho vay có bảo đảm thì các tổ chức tín dụng sẽ vẫn có khả năng thu hồi được nợ ngay cả khi khách hàng không có khả năng thanh toán, cho nên các TCTD sẽ tích cực hơn trong hoạt động cho vay của mình, từ đó góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và phát triển xãhội. Tóm lại, tài sản thế chấp trong hoạt động tín dụng của các ngân hàng thương mại là vật hoặc quyền thuộc sở hữu của bên thế chấp được các chủ thể thỏa thuận lựa chọn và để bảo đảm thực hiện quyền và nghĩa vụ của các bên nhận thế chấp (các TCTD) khi có sự vi phạm nghĩa vụ được bảo đảm, nhưng không phải là chuyển giao tài sản đó cho bên nhận thế chấp.2 Phân loại tài sản thế chấp trong hoạt động tín dụng của các ngân hàng thương mại Luận án đã đưa ra những cách phân loại tiêu biểu sau đây bởi chúng có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định, lựa chọn tài sản thế chấp cũng như xử lý tài sản thế chấp: Tài sản thế chấp là vật và quyền (hay còn gọi là tài sản thế chấp hữu hình và tài sản thế chấp vô hình). Tài sản thế chấp là động sản và tài sản.
Tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất Tài sản thế chấp là hàng trữ kho và các phương tiện giao thông vận tải Tài sản thế chấp là tài sản có đăng ký quyền sở hữu và không đăng ký quyền sở hữu. Tài sản thế chấp là tài sản bị hạn chế quyền sở hữu và tài sản không bị hạn luan an 17 chế quyền sở hữu. Trường hợp thế chấp toàn bộ tài sản có vật phụ, thì vật phụ đó cũng thuộc tài sản thế chấp. Trong trường hợp thế chấp một phần bất động sản có vật phụ, thì vật phụ chỉ thuộc tài sản thế chấp, nếu các bên có thoả thuận.
Hoa lợi, lợi tức và các quyền phát sinh từ tài sản thế chấp cũng thuộc tài sản thế chấp, nếu các bên có thoả thuận hoặc pháp luật có quy định; trường hợp tài sản thế chấp được bảo hiểm thì khoản tiền bảo hiểm cũng thuộc tài sản thế chấp. Tài sản thế chấp hiện có và hình thành trong tương lai.