Chương 1: Cơ sở lý luận chung về kiểm soát nội bộ hoạt động tín dụng bán lẻ tại ngân hàng thương mại. Chương 2: Thực trạng kiểm soát nội bộ hoạt động tín dụng bán lẻ tại ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Hà Thành. Chương 3: Giải pháp hoàn thiện kiểm soát nội bộ hoạt động tín dụng bán lẻ tại ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Hà Thành. 8 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ KIỂM SOÁT NỘI BỘ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG BÁN LẺ TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.
LÝ LUẬN CHUNG VỀ NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI VÀ TÍN DỤNG BÁN LẺ 1. Khái niệm Ngân hàng thƣơng mại Ngân hàng thương mại là “loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận. Vậy căn cứ theo quy định của pháp luật: “Ngân hàng thương mại là một tổ chức tín dụng chuyên kinh doanh tiền tệ và các hoạt động ngân hàng vì mục tiêu lợi nhuận”. Ngân hàng thương mại là tổ chức tài chính thực hiện các hoạt động liên quan đến lĩnh vực cung cấp tiền tệ, trung gian trao đổi tiền tệ, cung cấp dịch vụ tài chính cho khách hàng cá nhân và khách hàng doanh nghiệp.
Trong nền kinh tế thị trường, NHTM ngày càng hoàn thiện và trở thành ĐCTC không thể thiếu để vận hành nền kinh tế với các vai trò: - Ngân hàng thương mại là trung gian tín dụng: cầu nối giữa người thừa vốn và người thiếu vốn. - Ngân hàng thương mại là trung gian thanh toán: thay mặt khách hàng trích tiền trên tài khoản trả cho người thụ hưởng hoặc nhận tiền vào tài khoản. - Ngân hàng thương mại tạo tiền cho nền kinh tế. Khái niệm tín dụng bán lẻ Khái niệm bán lẻ có lẽ đã quá thân thuộc với trong đời sống hàng ngày, vậy đứng trên góc độ của ngân hàng, tín dụng bán lẻ được hiểu như thế nào? Tín dụng bán lẻ là “hình thức cung cấp trực tiếp các sản phẩm tín dụng có quy mô nhỏ cho khách hàng là cá nhân, hộ gia đình, doanh nghiệp vừa và nhỏ.” (Hà Thị Minh Điệp, 2019) Tín dụng bán lẻ là “một bộ phận quan trọng trong tín dụng ngân hàng và có vai trò quan trọng đối với hoạt động tín dụng và kết quả kinh doanh của các ngân 9 hàng thương mại.” Đặc biệt, Tín dụng bán lẻ “ còn giúp mang lại thu nhập cho ngân hàng thông qua lãi suất cho vay, nhờ đó mà hoạt động của ngân hàng được tăng cường.
Ngoài ra, thông qua tín dụng bán lẻ, ngân hàng còn có thể phát triển các hoạt động khác của mình, mở rộng thị phần hoạt động, được nhiều khách hàng biết đến. Tất cả các yếu tố đó góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng.” Với khách hàng, tín dụng bán lẻ “mang lại những lợi ích đáng kể. Nhờ có tín dụng bán lẻ của ngân hàng mà khách hàng có được khoản vốn vay kịp thời để đáp ứng các nhu cầu đầu tư, tiêu dùng, sản xuất kinh doanh. Tín dụng bán lẻ của ngân hàng là nguồn huy động vốn nhanh chóng, tiện ích cho người dân.” (Nguyễn Thị Thúy Quỳnh, Vũ Bích Vân, 2020) Tín dụng bán lẻ là “việc cấp tín dụng bằng nghiệp vụ cho vay, bảo lãnh, chiết khấu và các nghiệp vụ khác đối với khách hàng cá nhân, hộ gia đình và doanh nghiệp vừa và nhỏ vay vốn nhằm đáp ứng nhu cầu vốn cho tiêu dùng, đầu tư sản xuất kinh doanh và phục vụ đời sống.
Tuy nhiên tùy theo từng ngân hàng khác nhau mà đối tượng khách hàng bán lẻ có thể khác nhau.” (Hồ Văn Tuấn, 2016) Khái niệm “tín dụng bán lẻ” đã được nhiều nhà nghiên cứu, nhiều tác giả đề cập tới, tuy nhiên chưa được thống nhất về mặt định nghĩa, song khái quát lại các định nghĩa đều nói tới hai đặc điểm cơ bản đó là: việc đáp ứng nhu cầu về nguồn vốn cho các khách hàng nhỏ lẻ khi khách hàng cần và là một phần không thể thiếu trong hoạt động ngân hàng, đem lại nguồn lợi nhuận đáng kể cho ngân hàng. Rủi ro tín dụng bán lẻ 1. Khái niệm rủi ro tín dụng bán lẻ Khái niệm rủi ro tín dụng Rủi ro tín dụng là “ngôn từ thường được sử dụng trong hoạt động cho vay của ngân hàng hoặc trên thị trường tài chính. Đó là khả năng không chi trả được nợ của người đi vay đối với người cho vay khi đến hạn phải thanh toán.
Luôn là người cho vay phải chịu rủi ro khi chấp nhận một hợp đồng cho vay tín dụng.org, 2018) Rủi ro tín dụng là “rủi ro do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng hoặc thỏa 10 thuận với ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, trừ các trường hợp quy định tại điểm b khoản này” (Khoản 24 Điều 2 Thông tư 41/2016/TT-NHNN) Khái niệm rủi ro tín dụng bán lẻ Đầu tiên tác giả có thể chắc chắn rủi ro tín dụng bán lẻ là một phần trong rủi ro tín dụng ngân hàng. Hay rủi ro tín dụng bán lẻ là rủi ro do khách hàng nhỏ lẻ không thể thực hiện hoặc không có điều kiện thực hiện toàn bộ hoặc một phần nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng tín dụng hoặc thỏa thuận với ngân hàng, tổ chức tín dụng. Phân loại rủi ro tín dụng bán lẻ Phụ thuộc vào mục đích nghiên cứu mà có các cách phân loại rủi ro tín dụng bán lẻ khác nhau: a) Căn cứ vào nguyên nhân phát sinh rủi ro: - Rủi ro giao dịch: xảy ra do những giới hạn nhất định trong quá trình giao dịch, xét duyệt cho vay, nhận định khách hàng. Rủi ro giao dịch gồm: + Rủi ro lựa chọn: là rủi ro liên quan đến quá trình phân tích đánh giá tín dụng khi ngân hàng xem xét mục đích vay vốn của khách hàng để ra quyết định cho vay.
+ Rủi ro bảo đảm: là rủi ro phát sinh từ các loại TSĐB, cách thức đảm bảo và hạn mức cho vay trên giá trị của TSĐB. + Rủi ro nghiệp vụ: là rủi ro đến từ công tác quản lý khoản vay và hoạt động cho vay của nhân viên tín dụng và công nghệ của hệ thống ngân hàng, bao gồm cả việc sử dụng hệ thống xếp hạng tín dụng và kỹ thuật xử lý các khoản cho vay có vấn đề. - Rủi ro danh mục: Là rủi ro sinh ra từ sự yếu kém trong quản lý danh mục cho vay của ngân hàng, bao gồm rủi ro nội tại và rủi ro tập trung. + Rủi ro nội tại: Xuất phát từ các yếu tố, đặc điểm riêng biệt, bên trong của mỗi khách hàng hoặc sản phẩm vay.
Nó thường xuất phát từ đặc điểm hoạt động hoặc đặc điểm sử dụng vốn của khách hàng vay. + Rủi ro tập trung: Khi ngân hàng tập trung vốn cho vay quá nhiều đối với một số khách hàng; hay một loại hình sản phẩm vay, đều gia tăng rủi ro cao. 11 - Rủi ro tác nghiệp: Là rủi ro xảy ra do cán bộ ngân hàng, quá trình xử lý và hệ thống nội bộ không đầy đủ hoặc không hoạt động hoặc do các sự kiện bên ngoài tác động vào hoạt động ngân hàng. b) Căn cứ vào khả năng trả nợ của khách hàng: - Rủi ro không hoàn trả nợ đúng hạn: Là rủi ro khi mối quan hệ tín dụng được thiết lập, ngân hàng và khách hàng phải quy ước về thời gian hoàn trả nợ vay.
Tuy nhiên, đến thời hạn quy ước nhưng ngân hàng vẫn chưa thu hồi được vốn vay. - Rủi ro do mất khả năng chi trả: Là rủi ro xảy ra trong trường hợp khách hàng đi vay mất khả năng trả nợ, ngân hàng phải thanh lý TSĐB của khách hàng để thu nợ vay. Nguyên nhân rủi ro tín dụng bán lẻ Rủi ro tín dụng bắt nguồn từ lỗi của cả hai bên tham gia quan hệ tín dụng: Ngân hàng và khách hàng đi vay. Nguyên nhân từ ngân hàng Có rất nhiều nguyên nhân trong đó có những nguyên nhân chủ yếu sau: - Đánh giá sai năng lực tài chính hay khả năng sản xuất kinh doanh của khách hàng do không thu thập đầy đủ thông tin, dữ liệu về nguồn thu và mục đích vay của khách hàng.
- Việc cho vay có lúc còn chạy theo lợi ích và áp lực doanh số mà chưa chú trọng đến chất lượng khoản vay và an toàn vốn vay, nơi lỏng việc kiểm tra, kiểm soát trong tiến trình sử dụng vốn vay và thu hồi vốn, không nắm bắt được tình hình tín dụng của khách hàng, quá tin tưởng vào tài sản bảo đảm, coi nó là điều kiện quân trọng nhất khi xem xét cho vay. Khi đã có tài sản thế chấp, cán bộ tín dụng chủ quan không giám sát chặt chẽ khoản vay. - Việc lập quỹ dự phòng rủi ro tín dụng chưa được thực hiện chuẩn chỉ; mức độ về sự hiểu biết của đội ngũ cán bộ còn yếu kém, công tác tổ chức cán bộ còn thiếu hợp lý, phân định chức năng nhiệm vụ mỗi bộ phận không rõ ràng. - TSĐB bị giảm giá trị do biến động giá cả thị trường, chất lượng tài sản thế chấp giảm sút do thời gian sử dụng.
Nguyên nhân từ phía khách hàng - Nguồn thu của khách hàng bị giảm sút do nhiều yếu tố. Do đó, khách hàng không có tiền trả nợ ngân hàng. - Khách hàng có tư cách pháp nhân kém, cùng lúc vay nhiều nơi dẫn đến dư nợ lớn rồi không đủ khả năng trả nợ. - Sử dụng vốn vay sai mục đích vào các hoạt động có rủi ro cao dẫn tới thua lỗ, không trả nợ được cho ngân hàng đầy đủ, đúng thời hạn.
Nguyên nhân khác - Sự biến động của nền kinh tế như suy thoái kinh tế, lạm phát gia tăng, gây ra rủi ro tín dụng. - Hành lang pháp lý còn chưa đồng bộ, đầy đủ, còn những khe hở dẫn tới không kiểm soát được hết các đối tượng lừa đảo trong việc quản lý vốn tín dụng, gây khó khăn cho ngân hàng trong quá trình cho vay, thu hồi nợ, phát mại tài sản bảm đảm. - Do những nguyên nhân bất khả kháng như dịch bệnh, thiên tai, bão, lũ lụt, động đất. LÝ LUẬN CHUNG VỀ KIỂM SOÁT NỘI BỘ 1.