Chương 1: Tổng quan và cơ sở lý luận về xếp hạng tín dụng trong hoạt động của ngân hàng thương mại. Chương 2: Phương pháp nghiên cứu. Chương 3:Thực trạng hệ thống xếp hạng tín dụng khách hàng doanh nghiệp tại Ngân hàng TM TNHH MTV Đại Dương Oceanbank. Chương 4: Hoàn thiện hệ thống xếp hạng tín dụng doanh nghiệp tại Ngân hàng TM TNHH MTV Đại Dương.
3 z CHƢƠNG 1 – T NG QUAN VÀ CƠ SỞ L LUẬN V XẾP HẠNG TÍN DỤNG TRONG HOẠT ĐỘNG NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Tổng quan tình hình nghiên c u Xếp hạng tín dụng không còn xa lạ với các nước trên thế giới, đây cũng là yếu tố đóng vai trò trọng yếu trong việc đánh giá rủi ro tín dụng trong các doanh nghiệp. Đề tài này cũng thu hút nhiều sự chú ý của nhiều nhà nghiên cứu và chuyên gia tài chính trên thế giới. Trong đó có nghiên cứu của Sommerville và Taffer 1995 tại các tổ chức tài chính trên thế giới cho thấy một thực trạng r ng các tổ chức này không sử dụng các hệ thống đánh giá dựa trên các kết quả nghiên cứu có sẵn và ý kiến từ các chuyên gia trong lĩnh vực mà sử dụng phương pháp có cơ sở thực tiễn hơn.
Trong khi đó tại trung tâm thông tin tín dụng của Đài Loan JCIC sử dụng cả 2 phương pháp lý luận và thực tiễn khi xây dựng hệ thống đánh giá. Với sự phát triển của toán xác suất thống kê, các nhà nghiên cứu trên thế giới đã phát triển nhiều phương pháp giúp đánh giá tình hình tín dụng của các doanh nghiệp, ví dụ như: Altman 1967 đã xây dựng chỉ tiêu Altman Z Score nh m đánh giá xác suất phá sản của doanh nghiệp dựa trên các chỉ tiêu tài chính nội bộ của doanh nghiệp đó như: EBIT, hệ số luân chuyển vốn, hiệu quả sử dụng tài sản… Tiếp đó Ths Nguyễn Phúc Cảnh và Vũ Xuân Hùng đã có một bài nghiên cứu nh m đánh giá hiệu quả của chỉ tiêu Z score khi áp dụng vào các doanh nghiệp Việt Nam. Cụ thể báo cáo này đã thử áp dụng chỉ số Z-Score đối với Công ty cổ phần bánh kẹo Bibica và kết quả thu được khá chính xác. Phương pháp Logistic regression cũng được sử dụng khá thường xuyên trong các nghiên cứu cũng như hoạt động thực tiễn.
Cụ thể, Lawrence 1992 đã sử dụng phương pháp này để dự báo xác suất vỡ nợ của các doanh nghiệp thế chấp để vay vốn kinh doanh bất động sản. Kết quả nghiên cứu này chỉ ra r ng, lịch sử trả nợ có ảnh hưởng lớn nhất tới khả năng thu hồi nợ, cũng như khả năng mất khả năng thu hồi vốn của khách hàng trong tương lai Beta lớn nhất). Hiện nay, các NHTM Việt Nam thực hiện phân loại nợ theo Thông tư 02/2013/TT-NHNN. Theo đó, NHTM thực hiện phân loại nợ chủ yếu căn cứ theo 4 z thời gian quá hạn của các khoản nợ và kết quả xếp hạng khách hàng từ hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ - dựa trên sự đánh giá tổng hợp về tình hình tài chính, phi tài chính, kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của khách hàng.
Tuy nhiên quy trình xếp hạng và xử lý thông tin của các ngân hàng Việt Nam còn thiếu chuyên nghiệp với đánh giá chủ yếu phụ thuộc vào cảm tính của cán bộ tín dụng từ đó dẫn tới nhiều rủi ro cho ngân hàng. Xuất phát từ thực tế trên, các nhà nghiên cứu và cán bộ đầu ngành ngân hàng Việt Nam đã có khá nhiều nghiên cứu về lĩnh vực này. Trong đó có bài viết của TS Phạm Huy Hùng, cựu chủ tịch NH Vietinbank về Xếp hạng tín dụng nội bộ Việt Nam - thực trạng, giải pháp và hoàn thiện nêu rõ tầm quan trọng của hệ thông xếp hạng tín dụng nội bộ đối với hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Hay cuốn Cẩm nang xếp hạng tín dụng doanh nghiệp xuất bản năm 2012 của tác giả Lê Tất Thành là cuốn sách đầu tiên của Việt Nam viết về xếp hạng tín dụng doanh nghiệp.
Bên cạnh đó cũng có rất nhiều những đề tài nghiên cứu cấp thạc sỹ tại các trường đại học như: Nguyễn Thị Phương Thanh 2012 Hoạt động xếp hạng tín dụng đối với doanh nghiệp tại Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam - Luận văn thạc sỹ, Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội. Luận văn trình bày sự cần thiết của hệ thống xếp hạng tín dụng đối với các tổ chức tín dụng nói chung và đối với Vietcombank nói riêng. Đề tài tập trung chủ yếu vào phân tích phương pháp tính điểm và xếp hạng, đưa ra hướng kiểm chứng các chỉ tiêu nh m nâng cao hiệu quả của hệ thống xếp hạng tín dụng và hiệu quả quản trị rủi ro tín dụng của Vietcombank. Hay nghiên cứu của Nguyễn Thị Tú Quyên 2015 Hoàn thiện xếp hạng tín dụng nội bộ tại các ngân hàng thương mại Việt Nam hiện nay.
Luận văn đã phân tích thực trạng hoạt động xếp hạng tín dụng nội bộ tại các ngân hàng thương mại Việt Nam hiện nay từ đó nêu ra được những kết quả, tồn tại và nguyên nhân. Sau khi nêu ra định hướng hoạt động xếp hạng tín dụng nội bộ, luận văn đã đề xuất các giải pháp để hoàn thiện xếp hạng tín dụng nội bộ tại các ngân hàng thương mại. Có thể thấy, các nghiên cứu trên đây đã đưa ra các khái niệm, các phương pháp xếp hạng, quy trình xếp hạng tín dụng, từ đó đưa ra một số giải pháp hoàn thiện hệ thống xếp hạng tín dụng trong hoạt động ngân hàng thương mại. Tuy 5 z nhiên chưa có nghiên cứu chuyên sâu riêng nào về hoàn thiện hệ thống XHTD khách hàng doanh nghiệp tại NH Đại Dương – một ngân hàng có quy mô nhỏ và đang trong quá trình tái cơ cấu giai đoạn 2015-2018.
Vì vậy, trên cơ sở kế thừa đồng thời phát triển các khía cạnh mới mà các nghiên cứu trước đây chưa quan tâm đến, tác giả đã lựa chọn đề tài Hoàn thiện hệ thống xếp hạng tín dụng khách hàng doanh nghiệp tại Ngân hàng TM TNHH MTV Đại Dương để nghiên cứu. Cơ sở lý luận v t n d ng và r i ro t n d ng trong quan hệ t n d ng c a NHTM 1. Khái niệm về tín dụng Ngân hàng Tín dụng Ngânahàng là giao dịch về tài sản giữa ngân hàng TCTD với bên đi vay là các tổ chức kinh tế, cá nhân trong nền kinh tế trong đóangân hàng (TCTD) chuyển giao tàiasản của mìnhacho bên đi vay sử dụng trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận giữa hai bên, và bên điavay phải có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện cả vốn gốcavà lãi cho ngân hàng TCTD khi đếnahạn thanh toán. Xuất phát từ đặcatrưng của hoạt động ngân hàngalà kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ nên giao dịch trong tín dụng ngân hàngacũng chủ yếu dưới hình thức tiền tệ.
Tuy nhiên, trong một số hình thứcatín dụng, như hoạt động choathuê tài chính thì tài sản trong giao dịch tín dụng cũng cóathể là nhiều tài sảnakhác như tài sản cố định. Theo Luậtacác TCTD số 47/2010/QH12: Cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhânasử dụng một khoản tiền hoặcacam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoànatrả b ng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanhatoán, bảo lãnh ngân hàng và cácanghiệp vụ cấp tín dụng khác. Trong hoạt động các NHTM Việt Nam hiện nay, hoạt động tín dụng là nghiệp vụ nền tảng, truyền thống, đóng vai trò là một trong những hoạt động tạo ra lợi nhuận lớn nhất cũng như chiếm tỷ trọng cao trong cơ cấu tài sản của ngân hàng. Tín dụng là hoạt động tài trợ vốn của ngân hàng cho khách hàng.
Hoạt động này luôn đóng vai trò quan trọng nhất, quyết định sự thành bại của Ngân hàng. Nó cũng là hoạt động cơ bản, sinh lời chủ yếu của Ngân lhàng. Các hình thức tín dụng của NHTM Ngân hàng cấp tínadụng dưới nhiều hình thức như cho vay, chiết khấu và tái chiết khấu công cụ chuyển nhượng và giấy tờ có giá, bảo lãnh ngân hàng, bao thanh toán,…Trong đó, cho vay là hình thức cấp tín dụng chính của hầu hết các NHTM, theo đó bên cho vay giao hoặcacam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi. Bên cạnh đó, chiết khấu, tái chiết khấu công cụ chuyển nhượng và giấy tờ có giá cũng là một hìnhathức cấp tín dụng phổ biến.
Cụ thể, chiết khấu là việc mua có kỳ hạn hoặc muaacó bảo lưu quyền truy đòi các công cụ chuyển nhượng, các giấy tờ có giá khác của người thụ hưởng trước khi đến hạn thanh toán; trong khi tái chiết khấu là việc chiết khấu các công cụ chuyển nhượng, các giấy tờ có giá khác đã được chiết khấu trước khiađến hạn thanh toán. Ngoài ra, bảo lãnh ngân hàng – hình thức cấp tín dụng theo đó tổ chức tín dụng cam kết với bên nhận bảo lãnh về việc tổ chức tín dụng sẽ thựcahiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng khi khách hàng không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ đã cam kết, cùng với đó khách hàng phải nhận nợ và hoàn trả cho tổ chức tín dụng theo thỏa thuận – cũng là một nghiệp vụ tín dụng rất thông dụng trong các ngân hàng thương mại. Phát hành thẻ tín dụng là hình thức cấp tín dụng ngày càng trở nên phổ biến tại Việt Nam trong xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế của một thị trường bán lẻ đầy tiềm năng. Trong những hình thức cấp tín dụng khác,abao thanh toán trong nước và quốc tế là hình thức cấp tín dụng cho bên bán hàng hoặc bên mua hàng thông qua việc mua lại có bảo lưu quyền truy đòi các khoản phải thu hoặc các khoản phải trả phát sinh từ việc mua, bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ theo hợp đồng mua, bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ.
Ngoài ra, NHTM có thể triểnakhai các hình thức cấp tín dụng khác sau khi được Ngân hàng Nhà nước chấp thuận. Rủi ro tín dụng trong hoạt động kinh doanh của NHTM 1.1 Khái niệm rủi ro tín dụng Trong hoạt động kinh doanh của NHTM, rủi ro được hiểu là khả năng xảy ra 7 z những sự kiện ngoài mong muốn khác với dự kiến và đem lại những hậu quả bất lợi.