Chương 1: Cơ sở lý luận về chất lượng tín dụng doanh nghiệp tại NHTM. Tác giả chỉ ra các nội dung cơ bản về cấp tín dụng doanh nghiệp, các chỉ tiêu đánh giá thực trạng chất lượng tín dụng hiện nay, đồng thời chỉ ra kinh nghiệm của các NHTM nước ngoài về phương pháp cải thiện và nâng cao. Đây chính là nền tảng tri thức, là cơ sở để tác giả thực hiện nghiên cứu của mình trong chương 2. Chương 2: Thực trạng về chất lượng tín dụng doanh nghiệp tại ngân hàng TMCP Ngoại Thương Việt Nam - CN Kỳ Đồng.
Trong chương 2, tác giả tập trung nghiên cứu về số liệu thực tế đánh giá chất lượng tín dụng doanh nghiệp giai đoạn 2014 - 2018, những phương pháp thực hiện và kiểm soát chất lượng tín dụng trong thời kỳ đó. Từ thực trạng này, cùng với những phân tích về chất lượng tín dụng của ngân hàng, tác giả phân tích, đánh giá để nhận dạng ra những hạn chế và những nguyên nhân của chúng để tìm ra những giải pháp khắc phục sát với tình hình thực tiễn. Chương 3: Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng doanh nghiệp tại ngân hàng TMCP Ngoại Thương Việt Nam - CN Kỳ Đồng. Đây chính là sản phẩm cuối cùng của luận văn, là những giải pháp đề xuất và kiến nghị của tác giả để cải thiện và dần nâng cao chất lượng tín dụng doanh nghiệp trong thời gian tới.
Tổng quan về lĩnh vực nghiên cứu Luận văn này sẽ viện dẫn một số nghiên cứu như sau: - Các bài nghiên cứu trong nước: Nghiên cứu sinh Nguyễn Văn Tuấn - Trường ĐH Ngân hàng năm 2015 tác giả của Luận án “Giải pháp nâng cao Chất lượng tín dụng tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam”. Luận án nêu tổng quát lý luận về z 9 chất lượng tín dụng, rủi ro tín dụng, chất lượng tín dụng tại NHTM. Đánh giá thực trạng tín dụng tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam (NHNO&PTNT Việt Nam), nêu rõ các nguyên nhân dẫn đến hạn chế trong chất lượng tín dụng, đưa ra giải pháp nhằm nâng cao chất lượng tín dụng cho Ngân hàng này. Nghiên cứu đã gợi ý mô hình đánh giá tác động các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng tại NHNO&PTNT Việt Nam như sau: Sau khi kiểm định sơ bộ thang đo, tác giả đã khảo sát và thu thập dữ liệu chính thức tại NHNO&PTNT Hà Nội, Đà Nẵng, TP Hồ Chí Minh.
Kết quả kiểm định cuối cùng mức độ tác động các nhân tố đến chất lượng tín dụng tại NHNO&PTNT Việt Nam là: Chất lượng tín dụng = 0.265* Quy trình, quy chế + 0.257* Chính sách tín dụng + 0.253* Thông tin tín dụng + 0.230* Chất lượng nhân sự + 0.154* Năng lực quản trị + 0.140* Huy động vốn + 0.133* Kiểm tra, kiểm soát nội bộ z 10 + 0.119* Trang thiết bị công nghệ + 0.069* Công tác tổ chức Bài viết tại NHNO&PTNT Việt Nam chủ yếu tập trung vào tín dụng trong lĩnh vực nông nghiệp nông thôn, cho vay dưới chính sách hỗ trợ phát triển kinh tế của chính phủ, chưa đa dạng các ngành nghề cấp tín dụng trong nền kinh tế. Học viên Nguyễn Ngọc Nam - Trường ĐH Ngân hàng năm 2017 tác giả của Luận văn thạc sỹ “Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng tại Ngân hàng thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Nam Gia Lai”. Luận văn nêu tổng quát lý luận về chất lượng tín dụng, sử dụng các phương pháp suy diễn, phân tích, so sánh để chỉ ra các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng bao gồm ba nhóm yếu tố chính: nguyên nhân từ khách hàng, nguyên nhân từ Ngân hàng, nhân tố khách quan vĩ mô của nền kinh tế. Từ đó đưa ra giải pháp nhằm nâng cao chất lượng tín dụng cho Ngân hàng này.
Học viên Nguyễn Tấn Hưng - Trường ĐH Ngân hàng năm 2017 tác giả của Luận văn thạc sỹ “Chất lượng tín dụng tại Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam - Chi nhánh TX Giá Rai, Bạc Liêu”. Luận văn nêu tổng quát lý luận về chất lượng tín dụng, sử dụng các phương pháp suy diễn, phân tích, so sánh để chỉ ra ba nhóm nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng bao gồm: yếu tố bên trong Ngân hàng, yếu tố bên ngoài ngân hàng và yếu tố về môi trường. Từ đó đưa ra giải pháp nhằm nâng cao chất lượng tín dụng cho Ngân hàng này. Song luận văn chỉ dừng lại ở việc phân tích thực trạng dựa trên số liệu thứ cấp được thu thập từ báo cáo của ngân hàng.
Học viên Nguyễn Thị Thùy Dương - Trường ĐH Ngân hàng năm 2018 tác giả của Luận văn thạc sỹ “Nâng cao chất lượng tín dụng doanh nghiệp tại Ngân hàng TMCP Xuất nhập khẩu Việt Nam - Chi nhánh Mỹ Tho”. Luận văn nêu tổng quát lý luận về chất lượng tín dụng doanh nghiệp, các chỉ tiêu đánh giá chất lượng tín dụng trong đó có chỉ tiêu mới là tỷ lệ từ chối cho vay gồm tỷ lệ z 11 các hồ sơ ngân hàng từ chối do không đáp ứng điều kiện cho vay và hồ sơ khách hàng từ chối giải ngân do ngân hàng phê duyệt không đáp ứng được nhu cầu trên tổng hồ sơ tiếp nhận. Qua việc sử dụng các phương pháp phỏng vấn chuyên gia, phân tích, so sánh đã chỉ ra hai nhóm nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng bao gồm: nhân tố định tính và nhân tố bên ngoài. Từ đó đưa ra giải pháp nhằm nâng cao chất lượng tín dụng cho Ngân hàng này.
Song luận văn chưa đánh giá chất lượng tín dụng dựa trên thu nhập ròng từ hoạt động tín dụng, hiệu quả trên đồng vốn tín dụng của ngân hàng. - Các bài nghiên cứu nước ngoài: Tác giả Yuga Raj Bhattarai (Patan Multiple Campus, Tribhuvan University) đã có bài nghiên cứu Ảnh hưởng của rủi ro tín dụng đối với hoạt động của các ngân hàng thương mại Nepal “Effect of Credit Risk on the Performance of Nepalese Commercial Banks” (năm 2016) được đăng tải trong chủ đề NRB Economic Review, vol. 1 của Nepal Rastra Bank. Các nghiên cứu so sánh mô tả và nhân quả đã được áp dụng cho nghiên cứu.
Các dữ liệu gộp của 14 ngân hàng thương mại trong giai đoạn 2010 đến 2015 đã được phân tích bằng mô hình hồi quy như sau: ROAit = -8,308 + 0,015 CARit + -0,105 NPLRit + 7,489 CLAit + 0,01 CRRit + 0,385 BSit Trong đó: CAR (Capital adequacy ratio): tỷ lệ an toàn vốn NPL (Non-performing loan ratio): tỷ lệ nợ xấu/nợ quá hạn CLA (Cost per loan assets): chi phí trên mỗi tài sản cho vay CRR (Cash reserve ratio): tỷ lệ dự trữ tiền BS (Bank size): quy mô ngân hàng Kết quả hồi quy cho thấy “tỷ lệ nợ xấu/nợ quá hạn” ảnh hưởng tiêu cực đến hiệu suất ngân hàng trong khi “chi phí trên mỗi tài sản cho vay” có tác động tích cực đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng. Ngoài các chỉ số rủi ro tín dụng, quy mô ngân hàng có tác động tích cực đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng. Tỷ lệ vốn khả dụng và dự trữ tiền mặt không được coi là các biến z 12 số ảnh hưởng đến hiệu suất ngân hàng. Nghiên cứu này kết luận rằng có mối quan hệ đáng kể giữa hiệu suất ngân hàng và các chỉ số rủi ro tín dụng.
Tác giả Ping Han (School of Economics and Finance, Shandong Jiaotong University) đã có bài nghiên cứu về việc Quản trị rủi ro tín dụng của các NHTM“Credit Risk Management of Commercial Banks” (năm 2015) được đăng trên Journal of Business Administration Research, Vol. Nghiên cứu này tìm hiểu các nguồn rủi ro tín dụng đối với ngân hàng thương mại Trung Quốc, phân tích kinh nghiệm quản lý tín dụng ngân hàng thương mại Trung Quốc và sự thiếu sót của họ, và đưa ra một số biện pháp đối phó để kiểm soát rủi ro tín dụng của các ngân hàng thương mại tại Trung Quốc trong tình hình mới. Tuy nhiên, Nghiên cứu không thu thập được số liệu đại diện cho các ngân hàng thương mại ở Trung Quốc để chỉ rõ ra thực trạng tín dụng như kết quả nghiên cứu, mà đơn thuần chỉ phân tích định tính. Vì vậy, nên không có cơ sở kết luận về thực trạng cũng như các giải pháp áp dụng có hiệu quả hay không.
Hasan (Gabelli School of Business at Fordham University) đã có bài nghiên cứu về tính quyết định của các khoản nợ xấu đến khu vực kinh tế nói chung và ngành ngân hàng nói riêng, bằng chứng từ các tiểu bang của Hoa Kỳ“Banking-industry specific and regional economic determinants of non- performing loans: Evidence from US states” được in trên Journal of Finance Stability, No. 20, Trang 93-104 tháng 10/2015. Nghiên cứu hiện tại xem xét các yếu tố cụ thể như là tỷ lệ nợ xấu của tất cả các ngân hàng thương mại và tổ chức tín dụng trên khắp 50 tiểu bang của Hoa Kỳ và Quận Columbia trong giai đoạn 1984 - 2013. Sử dụng cả hiệu ứng cố định và ước tính GMM động, nghiên cứu chỉ ra rằng vốn hóa cao hơn, rủi ro thanh khoản, chất lượng tín dụng kém, chi phí hoạt động lớn hơn và tỷ lệ nợ xấu nợ xấu gia tăng đáng kể, trong khi tỷ lệ lợi nhuận tăng thấp hơn tỷ lệ nợ xấu.
Hơn nữa, GDP thực và tốc độ tăng thu nhập cá nhân thực tế tăng cao hơn, thay đổi chỉ số giá nhà ở làm giảm tỷ lệ nợ xấu, trong khi lạm phát, tỷ lệ thất nghiệp và nợ công của Mỹ làm z 13 tăng đáng kể nợ xấu. Điều này thường xuyên gây ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng của các ngân hàng đặc biệt là các ngân hàng thường có kịch bản tăng nợ xấu. Vì vậy, các ngân hàng này nên cân nhắc tác động của các tổ chức kinh tế cấp vi mô hoặc cấp nhà nước đối với nợ xấu. Khe hở/khoảng trống nghiên cứu đề tài Như trên đã trình bày, cho đến thời điểm hiện tại đã có khá nhiều nghiên cứu trong và ngoài nước bàn về vấn đề chất lượng tín dụng.
Tuy nhiên, các nghiên cứu trước chưa phân tích sâu về các nguyên nhân dẫn đến thực trạng chất lượng tín dụng thấp hay chỉ xem xét chất lượng tín dụng trên phương diện tỷ lệ nợ xấu/nợ quá hạn mà chưa đánh giá tổng thể cả tỷ lệ nợ xấu/nợ quá hạn và thu nhập từ đồng vốn tín dụng mang lại. Ngoài ra, mức độ tập trung dư nợ cấp tín dụng tại các ngành nghề kinh tế của các TCTD trong các bài nghiên cứu không tương thích với Vietcombank Kỳ Đồng.