CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN KIỂM TOÁN NỘI BỘ TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. KIỂM TOÁN NỘI BỘ NGÂN HÀNG THƯƠNG MAI 1. Kiểm toán nội bộ 1. Khái niệm về kiểm toán nội bộ Hệ thống kiểm soát nội bộ là hệ thống các thủ tục, chính sách được thiết kế và thực hiện trong đơn vị để thực hiện các mục tiêu quản lý là bảo đảm độ tin cậy và tính trung thực của các thông tin; bảo đảm sự tuân thủ các chính sách, thủ tục, quy định của doanh nghiệp cũng như của pháp luật; bảo vệ tài sản doanh nghiệp; bảo đảm sử dụng tiết kiệm và hiệu quả trong sử dụng nguồn tài nguyên của đơn vị.
Hệ thống này được thiết kế và điều hành bởi các nhà quản lý của đơn vị, quá trình này thường gồm các bước thiết kế thủ tục kiểm soát, thực hiện thủ tục kiểm soát, kiểm tra sự tuân thủ thủ tục kiểm soát và đánh giá các thủ tục kiểm soát. Khi quy mô của đơn vị ngày càng lớn, một bộ phận trong đơn vị sẽ tách ra, chuyên môn hóa trong công việc kiểm tra và đánh giá hệ thống kiểm soát của đơn vị. Đó chính là KTNB. KTNB là việc kiểm tra, đánh giá độc lập hệ thống kiểm soát nội bộ được thiết lập trong một đơn vị nhằm kiểm tra và đánh giá các hoạt động của đơn vị như là một hoạt động phục vụ cho đơn vị đó.
Bản chất của kiểm toán nội bộ là một bộ phận độc lập trong đơn vị tiến hành công việc kiểm tra và đánh giá đối với hệ thống kiểm soát nội bộ của đơn vị nhằm phục vụ cho yêu cầu của người quản lý [12] 1. Mục tiêu của kiểm toán nội bộ Mục tiêu của KTNB là nhằm đánh giá tính trung thực và độ tin cậy của các thông tin tài chính và hoạt động; bảo vệ an toàn tài sản của doanh nghiệp; chấp hành luật pháp, chính sách, chế độ Nhà nước cũng như các chính sách, quy định của đơn 123doc 4 vị đã được thiết lập; đánh giá tính hiệu quả của việc sử dụng các tài nguyên của đơn vị. Nguyên tắc kiểm toán nội bộ Có 2 nguyên tắc cơ bản mà KTNB phải tuân thủ là nguyên tắc độc lập và khách quan. Yêu cầu về độc lập của KTNB thể hiện ở mặt tổ chức, KTNB phải có đủ thẩm quyền để thực hiện các mục tiêu kiểm toán của mình.
Muốn vậy, bộ máy KTNB phải chịu trực thuộc một người đủ quyền lực để ủng hộ sự độc lập của KTNB, để đảm bảo một phạm vi kiểm toán rộng rãi, bảo đảm sự xem xét đầy đủ đối với báo cáo kiểm toán và có những biện pháp thích đáng trên cơ sở các kiến nghị của KTV. Yêu cầu khách quan đòi hỏi KTNB cần duy trì một thái độ độc lập trong quá trình thực hiện công việc kiểm toán. KTV không được tham gia vào việc thiết kế, cài đặt hay vận hành các hoạt động của đơn vị để đảm bảo tính khách quan. Phạm vi kiểm toán nội bộ Phạm vi KTNB rất rộng bao gồm kiểm toán báo cáo tài chính, báo cáo kế toán quản trị của doanh nghiệp và các đơn vị thành viên; kiểm toán tuân thủ và kiểm toán hoạt động.
Kiểm toán báo cáo tài chính là kiểm tra và xác nhận hoặc đưa ra ý kiến về tính trung thực và hợp lý của các tài liệu, số liệu kế toán và báo cáo tài chính của các đơn vị được kiểm toán. Kiểm toán tuân thủ là kiểm tra, đánh giá và xác nhận việc tuân thủ pháp luật, nội quy, quy chế mà đơn vị được kiểm toán phải thực hiện. Kiểm toán hoạt động là kiểm tra, đánh giá tính hợp pháp, hiệu lực, tính kinh tế và hiệu quả trong hoạt động của một bộ phận hay toàn bộ đơn vị được kiểm toán.Kiểm toán nội bộ tại ngân hàng thương mại 1. Khái niệm về kiểm toán nội bộ tại ngân hàng thương mại Kiểm toán nội bộ là một quá trình hoạt động một cách có hệ thống, có kỷ luật và độc lập của những người có thẩm quyền trong ngân hàng nhằm kiểm tra, đánh 123doc 5 giá về chất lượng và độ tin cậy của các thông tin tài chính và phi tài chính của ngân hàng, đồng thời đưa ra khuyến nghị nhằm nâng cao hiệu quả của công tác quản lý rủi ro, kiểm soát nội bộ và quản trị điều hành của ngân hàng.
Kiểm toán nội bộ cung cấp dịch vụ tư vấn và đảm bảo một cách khách quan và độc lập được thiết lập trong nội bộ ngân hàng nhằm tăng cường và cải thiện chất lượng hoạt động ngân hàng. Tổ chức bộ máy kiểm toán nội bộ tại ngân hàng thương mại. Bộ máy KTNB trực thuộc Ban Kiểm soát và chịu sự chỉ đạo trực tiếp của Ban Kiểm soát. Bộ máy kiểm toán nội bộ có thể được tổ chức thành hệ thống thống nhất theo ngành dọc theo mô hình phân tán (từ Hội sở chính đến chi nhánh các cấp đều có bố trí KTV nội bộ) hoặc tổ chức theo mô hình tập trung thành phòng/ban tại Hội sở chính tùy theo quy mô, mức độ, phạm vi và đặc thù hoạt động của NHTM.
Căn cứ vào quy mô, mức độ, phạm vi và đặc điểm hoạt động của NHTM và trên cơ sở đề nghị của Ban Kiểm soát, HĐQT quyết định về tổ chức bộ máy KTNB; chế độ lương, thưởng và phụ cấp trách nhiệm của các chức danh thuộc bộ máy KTNB. Trưởng Phòng/Ban KTNB do HĐQT bổ nhiệm, miễn nhiệm trên cơ sở đề nghị của Trưởng Ban Kiểm soát. Phó Trưởng Phòng/Ban KTNB và các chức danh khác của KTNB do HĐQT bổ nhiệm, miễn nhiệm trên cơ sở đề nghị của Trưởng Phòng/Ban KTNB. Mối quan hệ giữa kiểm toán nội bộ với các cấp lãnh đạo của ngân hàng thương mại (Hội đồng quản trị, Tổng Giám đốc) Bộ máy KTNB tách biệt hoàn toàn với bộ máy điều hành của Tổng Giám đốc NHTM.
KTNB không chịu sự chỉ đạo của Tổng Giám đốc mà do Trưởng Ban Kiểm soát trực tiếp chỉ đạo, điều hành. Kết quả KTNB phải được báo cáo cho HĐQT, Ban Kiểm soát và Ban Tổng Giám đốc. 123doc 6 Tổng Giám đốc NHTM có trách nhiệm tạo điều kiện thuận lợi để KTNB thực hiện nhiệm vụ được giao và chỉ đạo các đơn vị/bộ phận điều hành, tác nghiệp thực hiện phối hợp công tác với phòng/ban KTNB; đồng thời đôn đốc các đơn vị/bộ phận điều hành, tác nghiệp thực hiện các kiến nghị đã thống nhất với phòng/ban KTNB. Nhiệm vụ và quyền hạn của kiểm toán nội bộ ngân hàng thương mại.
Nhiệm vụ của kiểm toán nội bộ ngân hàng thương mại: Ngoài nhiệm vụ chính là thực hiện kiểm toán đối với tất cả các đơn vị thuộc ngân hàng và các công ty trực thuộc (chính sách, thủ tục, quy trình hoặc các vấn đề trong hoạt động) dựa trên mức độ rủi ro (cao, trung bình hoặc thấp) và mức độ ảnh hưởng đến hoạt động của ngân hàng, từ đó có những đề xuất các biện pháp khắc phục các sai sót nhằm hoàn thiện, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của đơn vị được kiểm toán, phòng/ban KTNB NHTM còn thực hiện các nhiệm vụ sau: – Tư vấn cho Hội đồng quản trị, Ban Tổng Giám đốc và các bộ phận nghiệp vụ thực hiện xây dựng các dự án, áp dụng mới hay sửa đổi những quy trình nghiệp vụ quan trọng; cơ chế quản trị; điều hành; quy trình nhận dạng, đo lường, đánh giá rủi ro, quản lý rủi ro, phương pháp đánh giá vốn; hệ thống thông tin, hạch toán, kế toán; thực hiện các nghiệp vụ, sản phẩm mới với điều kiện không ảnh hưởng đến tính độc lập của kiểm toán nội bộ. – Theo dõi, đôn đốc các đơn vị thực hiện khắc phục đối với các kiến nghị của kiểm toán nội bộ, kiểm toán độc lập, cơ quan Thanh tra, giám sát Ngân hàng nhà nước và các cơ quan khác. – Thực hiện các nhiệm vụ khác do theo chỉ đạo của Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát hoặc theo yêu cầu của Tổng Giám đốc. – Thực hiện quy trình đảm bảo chất lượng công tác kiểm toán nội bộ.
– Thiết lập hồ sơ về trình độ, năng lực và các yêu cầu cần thiết đối với kiểm toán viên nội bộ để làm cơ sở tuyển dụng, đề bạt, luân chuyển Kiểm toán viên và bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ; lập kế hoạch tuyển dụng và bố trí đầy đủ nhân sự 123doc 7 để đảm bảo công việc giám sát từ xa được liên tục; tổ chức đào tạo liên tục nhằm nâng cao và đảm bảo năng lực chuyên môn cho kiểm toán viên nội bộ. – Duy trì tham vấn, trao đổi thường xuyên với tổ chức kiểm toán độc lập, cơ quan Thanh tra, giám sát Ngân hàng Nhà nước nhằm đảm bảo hợp tác có hiệu quả; là đơn vị điều phối, phối hợp với các cơ quan bên ngoài đối với những công việc có liên quan đến chức năng, nhiệm vụ của KTNB. Quyền hạn của kiểm toán nội bộ ngân hàng thương mại: Quyền hạn của KTNB bao gồm một phạm vi rất rộng, bao gồm tất cả các quyền có thể đảm bảo cho KTNB có thể hoạt động được kể cả quyền yêu cầu khắc phục các kiến nghị của KTNB đã thống nhất với Tổng Giám đốc. Cụ thể quyền hạn của KTNB như sau: KTNB được trang bị đầy đủ các nguồn lực (nhân lực, tài chính và các phương tiện khác) cần thiết; được chủ động thực hiện các nhiệm vụ của mình theo kế hoạch kiểm toán đã được Trưởng Ban Kiểm soát phê duyệt; được cung cấp đầy đủ, kịp thời tất cả các thông tin, tài liệu, hồ sơ cần thiết cho công tác kiểm toán nội bộ; được tiếp cận, xem xét tất cả các quy trình nghiệp vụ, các tài sản khi thực hiện kiểm toán nội bộ; được tham dự các cuộc họp nội bộ theo quy định của pháp luật hoặc theo quy định tại Điều lệ, quy định nội bộ của NHTM; được giám sát, đánh giá và theo dõi các hoạt động sửa chữa, khắc phục, hoàn thiện của lãnh đạo các đơn vị, bộ phận đối với các vấn đề mà kiểm toán nội bộ đã ghi nhận và có khuyến nghị và được bảo vệ an toàn trước hành động bất hợp tác của đơn vị được kiểm toán.
Mối quan hệ giữa kiểm toán nội bộ và kiểm soát nội bộ. Kiểm soát nội bộ được thiết lập ngay trong mọi quy trình, nghiệp vụ của NHTM theo nguyên tắc “bốn mắt”, nghĩa là một người thực hiện công việc thì phải có một người thực hiện kiểm soát lại công việc đó. Kiểm soát nội bộ gắn liền với hoạt động nghiệp vụ hàng ngày của NHTM và là đối tượng của KTNB.