đặt vấn đề vay vốn với ngân hàng và hoàn trả các khoản nợ vay trực tiếp này cho ngân hàng. Vì các khoản vay này do chính ngân hàng thẩm định và ra quyết định cho vay nên chất lượng tín dụng cao hơn. Ngoài ra ngân hàng có sự giám sát, kiểm tra khách hàng sau cho vay, vì vậy có thể hạn chế mức thấp nhất các rủi ro tín dụng có thể xảy ra. Thêm vào đó, cán bộ quản lý được tuyển chọn bài bản, có trình độ, do đó các quyết định của hình thức cho vay trực tiếp thường có cơ sở pháp lý và chất lượng tín dụng cao hơn so với các đại lý ủy thác cho vay gián tiếp.
8 Qua phân tích ở trên có thể thấy rằng cho vay linh hoạt và so với cho vay tiêu dùng gián tiếp về các chất lượng dịch vụ và chất lượng tín dụng. Thông qua hình thức vay này, ngân hàng cũng dễ tạo được thiện cảm tốt cho khách hàng và là cơ hội để mở rộng kinh doanh và 1. Theo phương thức hoàn trả nợ tín dụng Dựa theo tiêu chí này Tín dụng bán lẻ được chi thành các hình thức cho vay như sau: ❖ Tín dụng từng lần Là hình thức cho vay với khách hàng có nhu cầu vay vốn phát sinh theo từng lần vay. Mỗi một lần vay vốn thì khách hàng và ngân hàng sẽ ký kết một hợp đồng tín dụng từng lần.
Phương thức vay này thường áp dụng cho các khách hàng có vòng quay vốn lưu động ngắn, là cá thể hoặc không có nhu cầu vay và trả nợ liên tục. ❖ Tín dụng theo hạn mức tín dụng Cho vay theo hạn mức tín dụng là hình thức cho vay mà khách hàng và ngân hàng sẽ xác định một hạn mức tín dụng và hạn mức này sẽ được quy định thời gian xác định của hạn mức tùy thuộc ngành nghề kinh doanh, nhu cầu vay vốn của khách hàng. Hình thức cho vay này phù hợp cho đối tượng khách hàng có nhu cầu vốn thường xuyên, vay trả liên tục và những khách hàng có vòng quay vốn lưu động lớn. ❖ Tín dụng trả góp Phương thức vay này khi khách hàng vay vốn, ngân hàng và khách hàng sẽ thỏa thuận với nhau tổng số tiền trả nợ vay sẽ được phân thành nhiều kỳ trả nợ khác nhau theo tháng, quý,.
❖ Tín dụng bằng nghiệp vụ phát hành thẻ tín dụng Với phương thức cho vay này, ngân hàng cho vay sẽ tiến hành cấp cho khách hàng của mình một hạn mức nhất định một loại thẻ tín dụng bất kỳ để khách hàng có thể chi tiêu, mua sắm hàng hóa, các nhu cầu cần thiết của khách hàng khi có nhu cầu tiêu dùng nhưng không mang theo tiền mặt. dda số đều tận hưởng được sự thuận tiện trong việc thanh toán cũng như việc thanh toán bằng thẻ tín dụng cũng mang lại khá 9 nhiều ưu đãi đến những nơi cung cấp dịch vụ. Bên cạnh đó, việc phát hành thẻ cũng có thể mang lại những bất cập không đáng có có thể đem lại rủi roc ho cà ngân hàng và khách hàng như việc đanh mất thẻ hay kẻ gian lừa đảo chiếm đoạt tiền của khách hàng. Do đó, việc sử dụng theo hình thức cho vay này khá rủi ro nên cả ngân hàng và khách hàng cần tuân theo quy định hiện hành của Ngân hàng Nhà nước và ngân hàng nơi phát hành khoản vay.
Vai trò của tín dụng cá nhân đối với nền kinh tế 1. Đối với kinh tế - xã hội ❖ Tín dụng cá nhân góp phần phát triển kinh tế Tín dụng cá nhân là một trong những kênh hỗ trợ các thành phần kinh tế từ cá nhân đến hộ gia đình cá thể, góp phần trong việc đáp ứng các nhu cầu thiết yếu cần thiết trong hoạt động tiêu dùng thiết yếu, sản xuất kinh doanh. Từ đó tăng thêm giá trị về mặt kinh tế tạo thêm công ăn việc làm cho người lao động, giải quyết phần nào tình trạng thất nghiệp và ❖ Góp phần tạo sự ổn định về mặt xã hội Về mặt xã hội, tín dụng cá nhân cũng là một trong những nhân tố góp phần tạo nên sự ổn định về mặt xã hội. Tín dụng nói chung và tín dụng cá nhân nói riêng có thể khai thác một cách triệt để các nguồn vốn nhàn rỗi trong xã hội, phân phối lại các ừ đó góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống, tạo thêm công việc ổn định cho xã hội.
Đối với ngân hàng ❖ Nâng cao thương hiệu Mỗi sản phẩm của ngân hàng đều có thể coi là một trong các nhân tố góp phần tạo nên giá trị. Sản phẩm ngân hàng rất đa dạng, mỗi sản phẩm đều là những tinh hoa nghiên cứu tạo nên đặc trưng riêng, ngoài ra thông qua tín dụng cá nhân ngân hàng còn có thể bán chéo thêm các sản phẩm, dịch vụ khác liên quan như: dịch vụ chuyển tiền, thanh toán tiền lương, gửi tiết kiệm, ngân hàng điện tử, … từ đó tạo nên sự tiện 10 ích cho khách hàng. Chính từ những sản phẩm này, tạo nên các đặc trưng riêng, đồng thời góp phần nâng cao chất lượng thương hiệu ❖ Phân tán rủi ro Hiện tại, đa số các ngân hàng doanh số cho vay giữa cá nhân và bán buôn có sự chênh lệch rất cao và tỷ lệ bán buôn chiếm tỷ trọng lớn hơn rất nhiều, thường tập trung chủ yếu ở một vài tổ chức. Vì vậy khi có sự biến động bất thường nào đó, khả năng trả nợ của những khách hàng bán buôn này bị ảnh hưởng sẽ ảnh hưởng rất nhiều đến chất lượng tín dụng cũng như kết quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng.
Do đó việc phát triển thêm mảng cá nhân cũng là một trong những biện pháp phân tán rủi ro cho ngân hàng nên hiện nay hầu hết các ngân hàng đều đẩy mạnh, nâng cao hoạt động cá nhân và khuyến khích phát triển nhiều hơn nữa các sản phẩm cá nhân. Đối với khách hàng Trên một góc nhìn nào đó, thông qua tín dụng cá nhân phần nào ngân hàng có thể hỗ trợ khách hàng giải quyết các nhu cầu về vốn tạm thời cũng như trải nghiệm các dịch vụ tiện ích của ngân hàng. Thay vì việc khách hàng phải tự bỏ toàn bộ số tiền tự có của mình hoặc đi vay mượn các cá nhân, người thân với lãi suất cao ngất ngưởng để chi tiêu hay đáp ứng các nhu cầu khác như: kinh doanh, mua nhà đất, xây dựng sửa chữa nhà, mua ô tô, … thì ngân hàng sẽ là nơi hỗ trợ cho khách hàng các nhu cầu đó với mức lãi suất hợp lý, thời gian lại linh hoạt, bên cạnh đó khách hàng còn được trải nghiệm các sản phẩm đa dạng, chuyên nghiệp, tiện ích đến từ ngân hàng từ đó tạo được sự yên tâm, cảm giác an toàn để khách hàng có thể 1. CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG CÁ NHÂN TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.
Khái niệm chất lượng và chất lượng tín dụng 1. Khái niệm về chất lượng Theo tiêu chí về hệ thống quản lý chất lượng - cơ sở đã đưa ra định nghĩa về chất lượng như sau: “Chất lượng là mức độ tập hợp các đặc tính vốn có đáp ứng các yêu cầu” 11 Theo như Philip B.Crosby 1979: “Chất lượng là sự phù hợp với yêu cầu” Theo định nghĩa của Tổ chức kiểm tra chất lượng Châu Âu (European Organisation for Quality Control) thì: “Chất lượng là mức phù hợp của sản phẩm đối với yêu cầu của người tiêu dùng.” Chất lượng là một trong những đặc trưng của sự thỏa mãn nhu cầu từ người sử dụng. Do đó, những sản phẩm mà không đáp ứng được sự thỏa mãn của người sử dụng thì có thể được coi là bị kém chất lượng. Những sản phẩm nào đáp ứng nhu cầu cho người sử dụng cao hơn thì sản phẩm đó được xem là có chất lượng cao hơn và rõ ràng ta có thể thấy để đánh giá chất lượng như thế nào thì tùy quan điểm của mỗi khách hàng Từ các quan điểm trên có thể hiểu chất lượng là: ❖ Chất lượng có thể hiểu là đáp ứng nhu cầu của khách hàng.
Một sản phẩm bất kỳ nếu người sử dụng hoặc không được họ chấp nhận thì có thể được coi là kém chất lượng cho dù sản phẩm đó được thiết kế hiện đại hay được trang bị công nghệ tốt nhất. Chất lượng yếu tố thay đổi theo điều kiện hoàn cảnh, theo không gian, thời gian của người sử dụng do nó được đo bằng sự thỏa mãn nhu cầu của người sử dụng mà nhu cầu của người sử dụng lại luôn biến đổi theo các điều kiện, hoàn cảnh khác nhau. Khái niệm về chất lượng tín dụng Theo như Nguyễn Quang Toản (1995) “Chất lượng tín dụng là một khái niệm thông dụng, bởi tín dụng bao hàm các hoạt động khác nhau, khó đồng nhất và đo lường: cho vay, bảo lãnh, phát hành L/C, chiết khấu, bao thanh toán, …. Thông thường trong phạm trù đơn giản Chất lượng tín dụng được dùng để phản ánh mức độ rủi ro trong bản tổng hợp cho vay của một tổ chức tín dụng”.
Kết hợp với khái niệm về “chất lượng” được nêu ở trên cho thấy “chất lượng” phải đáp ứng nhu cầu khách hàng và các bên liên quan. Trong quan hệ về tín dụng, các biên liên quan tham gia gồm có ngân hàng, khách hàng và xã hội, vì vậy khái niệm chất lượng có thể được xem xét thông qua các khía cạnh sau: 12 ❖ Chất lượng tín dụng theo quan điểm xã hội Bằng các khoản tín dụng của ngân hàng cung cấp cho các chủ thể trong nền kinh tế thì các hoạt động như nâng cao đời sống, , … sẽ được tiến hành và thúc đẩy sự phát triển xã hội. Do đó, nếu đứng trên quan điểm xã hội để đánh giá về chất lượng tín dụng thì có thể xem chất lượng tín dụng là sự đáp ứng cho các mục tiêu phát triển kinh tế, xã hội, đem lại lợi ích và sự thỏa mãn cho ❖ Chất lượng tín dụng theo quan điểm NHTM Chất lượng tín dụng là khoản tín dụng đáp ứng được nhu cầu của ngân hàng, đó là an toàn và hiệu quả. Với quan điểm của NHTM thì chất lượng tín dụng đã được các tác giả nghiên cứu dưới các góc độ nghiên cứu khác nhau.
Trên góc độ của ngân hàng, chất lượng tín dụng ngoài việc đem lại sự thỏa mãn các nhu cầu của khách hàng thì còn phải bảo đảm được sự hài hòa về lợi ích. ❖ Chất lượng tín dụng theo quan điểm khách hàng Với khách hàng, họ là người trực tiếp trải nghiệm hầu hết các loại sản phẩm, dịch vụ của ngân hàng để tối đa hóa lợi ích của mình khi sử dụng.