phần mở đầu, hoạt động cho vay là hoạt động chính trong hoạt động tín dụng đối với các NHTM trên địa bàn tỉnh Kiên Giang nói chung và CN.KG nói riêng, nó chi phối gần như toàn bộ hoạt động tín dụng của ngân hàng. Do đó, toàn bộ phần nghiên cứu hoạt động tín dụng của CN.KG chỉ tập trung nghiên cứu hoạt động cho vay, và sẽ được hiểu xuyên suốt trong các phần trình bày sau này của luận văn. Một số quy định về chất lượng tín dụng liên quan đến hiệu quả hoạt động tín dụng: Theo Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/4/2005 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam “V/v ban hành quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng để xử lý RRTD trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng” và Quyết định 18/2007/QĐ-NHNN ngày 25/4/2007 “V/v sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý RRTD trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng ban hành kèm theo Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/4/2005” thì dư nợ cho vay của các tổ chức tín dụng được chia làm 05 nhóm, cụ thể: Nợ nhóm 1 (nợ đủ tiêu chuẩn) bao gồm: - Các khoản nợ trong hạn và tổ chức tín dụng đánh giá là có khả năng thu hồi đầy đủ cả gốc và lãi đúng hạn; - Các khoản nợ quá hạn dưới 10 ngày và tổ chức tín dụng đánh giá là có khả năng thu hồi đầy đủ gốc và lãi bị quá hạn và thu đầy đủ gốc và lãi đúng thời hạn còn lại; - Đối với các khoản nợ quá hạn, khách hàng trả đầy đủ phần nợ gốc và lãi bị quá hạn (kể cả lãi áp dụng đối với nợ gốc quá hạn) và nợ gốc và lãi của các kỳ hạn trả nợ tiếp theo trong thời gian tối thiểu sáu (06) tháng đối với khoản nợ trung và dài hạn, ba (03) tháng đối với các khoản nợ ngắn hạn, kể từ ngày bắt đầu trả đầy đủ nợ gốc và lãi bị quá hạn. 123doc 10 - Đối với các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ, khách hàng trả đầy đủ nợ gốc và lãi theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại trong thời gian tối thiểu sáu (06) tháng, ba (03) tháng đối với các khoản nợ ngắn hạn, kể từ ngày bắt đầu trả đầy đủ nợ gốc và lãi theo thời hạn được cơ cấu lại.
Nợ nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn) bao gồm: - Các khoản nợ quá hạn từ 91 ngày đến 180 ngày; - Các khoản nợ cơ cấu lại có thời hạn trả nợ lần đầu, trừ các khoản nợ điều chỉnh kỳ hạn trả nợ lần đầu được phân loại vào nhóm 2 theo quy định. - Các khoản nợ được miễn hoặc giảm lãi do khách hàng không đủ khả năng trả lãi đầy đủ theo hợp đồng tín dụng. Nợ nhóm 4 (Nợ nghi ngờ) bao gồm: - Nợ quá hạn từ 181 ngày đến 360 ngày; - Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn dưới 90 ngày theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu; - Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai. Nợ nhóm 5 (Nợ có khả năng mất vốn) bao gồm: - Các khoản nợ quá hạn trên 360 ngày; - Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn từ 90 ngày trở lên theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu; - Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai quá hạn theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần thứ hai; - Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ ba trở lên, kể cả chưa bị quá hạn hoặc đã quá hạn; - Các khoản nợ khoanh, nợ chờ xử lý.
123doc 11 Ngoài những quy định phân loại nợ như trên, Tổ chức tín dụng còn phải chuyển khoản nợ vào nhóm có rủi ro cao hơn trong các trường hợp sau đây: - Toàn bộ dư nợ của một khách hàng tại một tổ chức tín dụng phải được phân loại vào cùng một nhóm nợ. Đối với khách hàng có từ hai (02) khoản nợ trở lên tại tổ chức tín dụng mà có bất cứ một khoản nợ nào bị phân loại theo quy định phân loại nêu trên vào nhóm có rủi ro cao hơn các khoản nợ khác, tổ chức tín dụng phải phân loại lại các khoản nợ còn lại của khách hàng vào nhóm có rủi ro cao nhất đó. - Đối với các khoản cho vay hợp vốn, tổ chức tín dụng làm đầu mối phải thực hiện phân loại nợ đối với khoản cho vay hợp vốn theo các quy định nêu trên và phải thông báo kết quả phân loại nợ cho các tổ chức tín dụng tham gia cho vay hợp vốn. Trường hợp khách hàng vay hợp vốn có một hoặc một số các khoản nợ khác tại tổ chức tín dụng tham gia cho vay hợp vốn đã phân loại vào nhóm nợ không cùng nhóm nợ của các khoản nợ vay hợp vốn do tổ chức tín dụng làm đầu mối phân loại, tổ chức tín dụng tham gia cho vay hợp vốn phân loại lại toàn bộ dư nợ (kể cả phần dư nợ cho vay hợp vốn) của khách hàng vay hợp vốn vào nhóm nợ do tổ chức tín dụng đầu mối phân loại hoặc do tổ chức tín dụng tham gia cho vay hợp vốn phân loại tùy theo nhóm nợ nào có rủi ro cao hơn.
- Tổ chức tín dụng phải chủ động phân loại các khoản nợ được phân loại vào các nhóm theo quy định phân loại nợ nêu trên vào nhóm nợ có rủi ro cao hơn theo đánh giá của tổ chức tín dụng khi xảy ra một trong các trường hợp sau đây: + Có những diễn biến bất lợi tác động tiêu cực đến môi trường, lĩnh vực kinh doanh của khách hàng; + Các khoản nợ của khách hàng bị các tổ chức tín dụng khác phân loại vào nhóm nợ có mức độ rủi ro cao hơn (nếu có thông tin); + Các chỉ tiêu tài chính của khách hàng (về khả năng sinh lời, khả năng thanh toán, tỷ lệ nợ trên vốn và dòng tiền) hoặc khả năng trả nợ của khách hàng bị suy giảm liên tục hoặc có biến động lớn theo chiều hướng suy giảm; 123doc 12 + Khách hàng không cung cấp đầy đủ, kịp thời và trung thực các thông tin chính theo yêu cầu của tổ chức tín dụng để đánh giá khả năng trả nợ của khách hàng. Việc phân loại nợ theo Quyết định 493 và Quyết định 18 sửa đổi, bổ sung Quyết định 493 của Ngân hàng Nhà nước không chỉ dựa vào tiêu chí thời gian quá hạn mà còn dựa vào tiêu chí rủi ro của khoản vay. Điều đó cho thấy Ngân hàng Nhà nước muốn các NHTM phải đánh giá thực sự các khoản nợ đã cho khách hàng vay hay nói chính xác là đánh giá chính xác hơn về chất lượng tín dụng của mình để dần sớm phù hợp với những chuẩn mực quốc tế trong lĩnh vực ngân hàng. Chỉ tiêu biểu hiện chất lượng tín dụng: a.
Đối với NHTM: * Khái niệm nợ quá hạn: Đến thời điểm trả nợ gốc và/hoặc lãi đã được thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng giữa ngân hàng và khách hàng mà khách hàng không trả nợ đúng hạn hoặc không được ngân hàng chấp thuận cơ cấu lại thời hạn trả nợ thì toàn bộ dư nợ gốc của hợp đồng tín dụng là NQH. * Khái niệm nợ xấu: Nếu chỉ dựa vào chỉ tiêu NQH để đánh giá chất lượng tín dụng của một ngân hàng thì sẽ không chính xác. Vì vậy Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/4/2005 và Quyết định số 18/2007/QĐ-NHNN ngày 25/4/2007 sửa đổi Quyết định 493 của Ngân hàng Nhà nước ra đời, Ban hành quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý RRTD trong hoạt động ngân hàng của TCTD đã đánh giá chính xác hơn chất lượng tín dụng của các TCTD và dần tiếp cận theo thông lệ quốc tế. Theo những Quyết định trên thì dư nợ của các TCTD được chia làm 05 nhóm, nợ xấu là nợ thuộc các nhóm 3, 4 và 5 theo cách phân loại nợ như đã nêu ở phần trên.
*Tỷ lệ nợ xấu: Được xác định theo công thức sau: Nợ xấu Tỷ lệ nợ xấu = ---------------------- x 100% ≤ 5% Tổng dư nợ 123doc 13 Tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ là tỷ lệ để đánh giá chất lượng tín dụng của các TCTD. Tỷ lệ nợ xấu càng cao thì chất lượng tín dụng càng kém và ngược lại. Nếu tỷ lệ nợ xấu ≤ 5% thì chất lượng tín dụng xem như bình thường, càng nhỏ hơn 5% càng tốt. Ngược lại, nếu tỷ lệ nợ xấu lớn hơn 5% thì chất lượng tín dụng đang có vấn đề.
* Vòng quay vốn tín dụng: Doanh số thu nợ Vòng quay tín dụng =------------------------ Dư nợ bình quân Vòng quay vốn tín dụng phản ánh tình hình quan hệ tín dụng của khách hàng vay vốn đối với ngân hàng, quy mô hoạt động của ngân hàng, đóng góp của vốn tín dụng cho nền kinh tế. Vòng quay vốn tín dụng càng lớn chứng tỏ chu chuyển vốn tín dụng nhanh, tình hình hoạt động tín dụng lành mạnh, ngân hàng thu phí được nhiều hơn. Đối với nền kinh tế: Chất lượng tín dụng gắn liền với quá trình và hiệu quả sử dụng vốn tín dụng của các doanh nghiệp nói riêng và của nền kinh tế nói chung. Doanh nghiệp, cá nhân sử dụng đồng vốn tín dụng mà ngân hàng đầu tư có hiệu quả sẽ góp phần thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng, phát triển; chuyển dịch cơ cấu kinh tế hợp lý, đời sống kinh tế - xã hội ổn định, lưu thông tiền tệ và lưu thông hàng hóa phát triển bình thường, góp phần ổn định tiền tệ, kiềm chế lạm phát.
Đối với cá nhân, doanh nghiệp vay vốn: Doanh nghiệp, cá nhân sử dụng vốn vay có hiệu quả sẽ tạo ra nhiều sản phẩm hàng hoá, dịch vụ cung cấp cho xã hội, thực hiện dúng cam kết trả nợ gốc và lãi đúng hạn cho ngân hàng, góp phần làm lành mạnh tình hình tài chính của doanh nghiệp, trên cơ sở đó mà thúc đẩy sự phát triển của doanh nghiệp về mọi lĩnh vực. Mối quan hệ giữa tăng trưởng tín dụng với chất lượng tín dụng và hiệu quả hoạt động tín dụng: Tăng trưởng tín dụng thông thường được hiểu là sự gia tăng về mặt lượng của tín dụng như dư nợ cho vay trong một thời kỳ nhất định.