Chương 1: Tổng quan về tín dụng ngân hàng và chất lượng tín dụng của ngân hàng thương mại Chương 2: Thực trạng chất lượng tín dụng tại Ngân hàng TMCP Xăng dầu Petrolimex chi nhánh Hải Dương giai đoạn 2016 – 2018 Chương 3: Một số giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động tín dụng tại Ngân hàng TMCP Xăng dầu Petrolimex chi nhánh Hải Dương. 3 Luan van CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ TÍN DỤNG NGÂN HÀNG VÀ CHẤT LƢỢNG TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Tổng quan về tín dụng ngân hàng 1. Khái niệm tín dụng Tín dụng là hoạt động cơ bản và đặc trưng của NHTM.
Tín dụng thể hiện mối quan hệ vay và cho vay, trong đó người vay có thể là cá nhân hoặc tổ chức, còn người cho vay là ngân hàng hoặc tổ chức tài chính phi ngân hàng. Sản phẩm vay có thể là hàng hoá hoặc tiền. Như vậy, tín dụng biểu hiện mối quan hệ kinh tế gắn liền với quá trình tạo lập và sử dụng quỹ tín dụng nhằm mục đích thoả mãn nhu cầu vốn tạm thời theo nguyên tắc hoàn trả. Theo Khoản 14, Điều 14, Luật Các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12, hoạt động tín dụng được định nghĩa: “Cấp tín dụng là việc thoả thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ tín dụng khác.
Đặc điểm của hoạt động tín dụng Thứ nhất, tín dụng ngân hàng dựa trên cơ sở lòng tin. Ngân hàng chỉ cấp tín dụng khi có lòng tin vào việc khách hàng sử dụng vốn vay hiệu quả và có khả năng hoàn trả nợ vay bao gồm cả gốc và lãi đúng hạn. Thứ hai, tín dụng là sự chuyển nhượng một tài sản có thời hạn. Mọi khoản tín dụng của ngân hàng đều phải có thời hạn bảo đảm cho ngân hàng hoàn trả vốn huy động do ngân hàng giữ vai trò trung gian tài chính “đi vay để cho vay”.
Để xác định thời hạn cho vay hợp lý, các NHTM thường căn cứ vào tính chất thời hạn nguồn vốn của mình và quá trình luân chuyển vốn của đối tượng vay. Nếu nguồn vốn dài hạn của ngân hàng ổn định thì có thể cấp nhiều tín dụng dài hạn. Ngược lại, ngân hàng sẽ gặp rủi ro thanh khoản khi 4 Luan van cấp nhiều tín dụng mà nguồn vốn không ổn định và kỳ hạn ngắn. Mặt khác, thời hạn cho vay phải phù hợp với chu kỳ luân chuyển vốn của người vay.
Nếu ngân hàng xác định thời hạn cho vay nhỏ hơn chu kỳ luân chuyển vốn của đối tượng vay thì khách hàng không đủ điều kiện trả nợ khi đến hạn, gây khó khăn cho phía khách hàng. Ngược lại, nếu thời hạn cho vay lớn hơn chu kỳ luân chuyển vốn sẽ mang lại nhiều rủi ro cho ngân hàng khi khách hàng sử dụng nguồn vốn vay không đúng mục đích. Thứ ba, tín dụng phải dựa trên nguyên tắc hoàn trả cả gốc và lãi. Giá trị hoàn trả luôn lớn hơn giá trị gốc.
Điều này có nghĩa là ngoài việc hoàn trả giá trị gốc, khách hàng phải trả cho ngân hàng một khoản lãi (luôn là số dương) nhằm bù đắp chi phí hoạt động và tạo ra lợi nhuận, phản ánh đúng bản chất hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại. Thứ tư, tín dụng là hoạt động tiềm ẩn nhiều rủi ro cho các NHTM. Việc thu hồi tín dụng không những phụ thuộc vào khách hàng mà còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố vĩ mô nằm ngoài tầm kiểm soát của khách hàng như: sự biến động về giá cả, lãi suất, tỷ giá, lạm phát… Ngân hàng sẽ gặp rủi ro tín dụng khi những yếu tố vĩ mô kể trên tác động tiêu cực đến hoạt động kinh doanh của khách hàng. Thứ năm, tín dụng phải dựa trên cơ sở cam kết hoàn trả vô điều kiện.
Quá trình xin vay và cho vay dựa trên những căn cứ pháp lý như: Hợp đồng tín dụng, Hợp đồng bảo đảm tiền vay, bảo lãnh…trong đó bên đi vay phải cam kết hoàn trả vô điều kiện khoản vay cho ngân hàng khi đến hạn. Từ các đặc điểm trên cho thấy, hoạt động tín dụng của NHTM dựa trên hai nguyên tắc cơ bản sau: Thứ nhất, vốn vay phải được sử dụng đúng mục đích. Thứ hai, vốn vay phải được hoàn trả cả gốc và lãi đúng thời hạn đã cam kết trong hợp đồng. Vai trò của hoạt động tín dụng 1.
Đối với nền kinh tế Thứ nhất, tín dụng ngân hàng có vai trò luân chuyển nguồn vốn từ những cá nhân, hộ gia đình, công ty. có nguồn vốn thặng dư (do chi tiêu ít hơn thu nhập) đến những cá nhân, hộ gia đình, công ty. có nguồn vốn thâm hụt (do nhu cầu chi tiêu vượt quá thu nhập). Nhu cầu vay vốn không chỉ để đầu tư, kinh doanh mà còn dùng để thoả mãn nhu cầu tiêu dùng.
Vì vậy, các NHTM là kênh luân chuyển vốn quan trọng giữa các chủ thể trong nền kinh tế, góp phần thúc đẩy kinh tế phát triển. Thứ hai, hoạt động tín dụng còn có chức năng kiểm soát nền kinh tế. Xuất phát từ chức năng luân chuyển ngồn vốn, tín dụng ngân hàng có thể kiểm soát được hoạt động của nền kinh tế thông qua quá trình sử dụng các nguồn huy động để cấp tín dụng. Thông qua nghiệp vụ huy động vốn, NHTM có thể đánh giá tình hình sản xuất kinh doanh cũng như khả năng chi trả của khách hàng thông qua biến động số dư tài khoản tiền gửi của khách hàng.
Nghiệp vụ tín dụng đòi hỏi ngân hàng phải luôn dự trù nguy cơ rủi ro có thể xảy ra và có các phương án khắc phục. Để có thể phân tích rủi ro, ngân hàng thường xuyên phân tích khả năng tài chính của khách hàng, có các biện pháp và kế hoạch giám sát hoạt động sản xuất kinh doanh của khách hàng, theo dõi tình hình sử dụng vốn vay. Từ đó ngân hàng có thể nắm rõ được tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đồng thời có thể can thiệp, đóng góp ý kiến để có sự điều chỉnh kịp thời khi cần thiết. Thứ ba, tín dụng ngân hàng đóng vai trò quyết định đến sự ổn định của lưu thông tiền tệ, hàng hoá, điều tiết thị trường và thúc đẩy quá trình mở rộng giao lưu kinh tế giữa các nước.
Thứ tư, tín dụng ngân hàng mang lại nguồn thu lớn cho ngân sách nhà nước thông qua thuế thu nhập và lãi từ uỷ thác đầu tư vốn của chính phủ. 6 Luan van Thứ năm, tín dụng ngân hàng là công cụ hỗ trợ đắc lực cho các ngành kinh tế kém phát triển và thúc đẩy các ngành kinh tế mũi nhọn phát triển. Thông qua tín dụng ngân hàng, ngân hàng nhà nước thực hiện chính sách ưu đãi với các ngành kinh t ế mũi nhọn, những ngành kinh tế kém phát triển bằng việc quy định một khung lãi suất, các điều kiện ưu đãi dành cho các đối tượng này. Thứ sáu, với xu thế toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới, tín dụng ngân hàng góp phần phát triển các mối quan hệ đối ngoại.
Đầu tư vốn ra nước ngoài và tài trợ xuất nhập khẩu là hai lĩnh vực hợp tác thông dụng giữa các nước. Thông qua hoạt động này các nước có thể mở rộng và thắt chặt mối quan hệ với nhau, tạo điều kiện thúc đẩy sự mở rộng về hoạt động xuất nhập khẩu, tăng cường nguồn vốn tín dụng (như nguồn vốn từ WB, IMF) vào trong nước. Đối với khách hàng Thứ nhất, tín dụng ngân hàng đáp ứng kịp thời nhu cầu về số lượng và chất lượng vốn vay cho khách hàng. Với các ưu điểm như an toàn, thuận tiện, nhanh chóng, dễ tiếp cận và có khả năng đáp ứng được nhu cầu vốn lớn, tín dụng ngân hang đã đáp ứng được nhu cầu ngay càng đa dạng của khách hàng.
Thứ hai, tín dụng ngân hàng giúp nhà đầu tư nắm bắt được những cơ hội kinh doanh, giúp các doanh nghiệp có vốn để mở rộng sản xuất, giúp các cá nhân có đủ khả năng tài chính để trang trải cho các khoản chi tiêu, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống. Thứ ba, tín dụng ngân hàng yêu cầu khách hàng phải có trách nhiệm hoàn trả vốn gốc và lãi trong thời hạn nhất định. Do đó, khách hàng phải sử dụng vốn vay sao cho hiệu quả để đảm bảo nghĩa vụ trả nợ cho ngân hàng. Đối với ngân hàng thương mại Thứ nhất, tín dụng là hoạt động đóng vai trò quyết định đến sự tồn tại và phát triển của NHTM.
Đối với một NHTM, tín dụng là hoạt động sinh lời lớn nhất và chiếm tỉ trọng lớn nhất trong tổng tài sản của ngân hàng. Tuy nhiên 7 Luan van tín dụng ngân hàng cũng là hoạt động mang lại nhiều rủi ro nhất. Thứ hai, thông qua hoạt động tín dụng mà ngân hàng đa dạng hoá được danh mục tài sản có và giảm thiểu rủi ro. Hoạt động tín dụng hiệu quả góp phần nâng cao hình ảnh của ngân hàng.
Thứ ba, các chính sách tín d ụng phản ánh cương lĩnh tài trợ của ngân hàng, trở thành hướng dẫn chung cho cán bộ tín dụng và các nhân viên ngân hàng, tăng cường chuyên môn hoá trong phân tích tín d ụng, tạo sự thống nhất chung trong hoạt động tín dụng nhằm hạn chế rủi ro và nâng cao khả năng sinh lời. Các hình thức tín dụng Phân loại các hình thức tín dụng là việc sắp xếp các khoản cho vay theo từng nhóm dựa trên một số tiêu thức nhất định. Đây là tièn đề để thiết lập quy trình cho vay thích hợp và nâng cao hiệu quả quản trị rủi ro tín dụng. Trong thực tế, các hình thức tín dụng rất phong phú, đa dạng và được phân loại theo nhiều tiêu chí khác nhau.
Căn cứ vào thời hạn cho vay Thời hạn cho vay là kho ảng thời gian khách hàng b ắt đầu nhận vốn vay cho đến thời điểm khách hàng thanh toán h ết nợ gốc và lãi vay phát sinh trong hợp đồng tín dụng. Theo tiêu chí này, các kho ản tín dụng được phân chia thành: Tín dụng ngắn hạn: Là các khoản vay có thời hạn cho vay đến 12 tháng. Các khoản vay này thường được thực hiện để bổ sung vốn lưu động cho doanh nghiệp. Tín dụng trung và dài hạn: Là các khoản vay có thời gian vay trên 01 năm.
Thông thường các khoản vay từ trên 12 tháng đến 60 tháng được coi là tín dụng trung hạn và trên 60 tháng được coi là tín dụng dài hạn.