CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 Chất lượng tín dụng của ngân hàng thương mại 1.1 Khái niệm về chất lượng tín dụng ngân hàng 1.1 Chất lượng Chất lượng là một khái niệm khá quen thuộc trong mọi lĩnh vực của cuộc sống, tuy nhiên chất lượng cũng là một khái niệm gây nhiều tranh cãi và chưa có một khái niệm thống nhất về chất lượng. Tùy theo đối tượng sử dụng, mà khái niệm “chất lượng” có ý nghĩa khác nhau. Người sản xuất coi chất lượng là điều họ phải làm để đáp ứng các quy định và yêu cầu do khách hàng đặt ra, để được khách hàng chấp nhận. Chất lượng được so sánh với chất lượng của đối thủ cạnh tranh và đi kèm theo các chi phí, giá cả.
Do con người và nền văn hóa trên thế giới khác nhau, nên cách hiểu về chất lượng cũng khác nhau. Theo tổ chức quốc tế về tiêu chuẩn hóa (ISO), “chất lượng” được định nghĩa như sau: Chất lượng là khả năng của tập hợp các đặc tính của một sản phẩm, hệ thống hay quá trình để đáp ứng các yêu cầu của khách hàng và các bên có liên quan” (Nguyễn Văn Tiến, 2013, trang 121).2 Chất lượng tín dụng ngân hàng Theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia, chất lượng tín dụng là một khái niệm không thông dụng, bỡi tín dụng bao hàm các hoạt động khác nhau khó đồng nhất và đo lường, gồm: cho vay, bảo lãnh, phát hành L/C, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán…Tuy nhiên, do hoạt động cho vay là hình thức chủ yếu của NHTM, nên theo nghĩa hẹp thì chất lượng tín dụng chính là chất lượng cho vay của NHTM. Từ khái niệm chung cho thấy “chất lượng” phải đáp ứng các yêu cầu của khách hàng và các bên có liên quan. Trong quan hệ tín dụng, các bên liên quan gồm có khách hàng, ngân hàng và xã hội.
123doc 5 Đối với khách hàng: Chất lượng tín dụng được thể hiện ở chỗ “Tín dụng phải đáp ứng được mục đích sử dụng vốn vay của khách hàng, với số lượng, kỳ hạn, lãi suất và lịch trả nợ hợp lý; thủ tục đơn giản, đảm bảo nguyên tắc tín dụng và tuân thủ pháp luật”. Đối với ngân hàng: Chất lượng tín dụng được thể hiện ở chỗ “Tín dụng phải tuân thủ quy trình nghiệp vụ, chính sách tín dụng của ngân hàng và pháp luật; tín dụng phải được bảo đảm và đảm bảo nguyên tắc hoàn trả đầy đủ và đúng hạn cả gốc lẫn lãi; rủi ro tín dụng phải trong giới hạn cho phép và được kiểm soát; hoạt động tín dụng phải mang lại hiệu quả kinh tế cho ngân hàng, tạo điều kiện cho các dịch vụ khác của ngân hàng phát triển, bảo đảm thanh khoản, nâng cao uy tín và vị thế cạnh tranh cho ngân hàng. Đối với sự phát triển kinh tế xã hội: Tín dụng phải phục vụ sản xuất, lưu thông hàng hóa và đời sống dân cư, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tạo công ăn việc làm, thúc đẩy quá trình tích tụ, tập trung và phân phối tư bản. Qua phân tích ta đi đến khái niệm: Chất lượng tín dụng ngân hàng là một chỉ tiêu tổng hợp phản ánh mức độ đáp ứng yêu cầu vay vốn hợp lý của khách hàng; phù hợp với chính sách tín dụng, bảo đảm an toàn và mang lại hiệu quả kinh tế cho ngân hàng; đồng thời góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội như một tổng thể.
Trong kinh doanh ngân hàng, chất lượng tín dụng là một phạm trù được dùng để phản ánh mức độ rủi ro trong danh mục cho vay đối với một tổ chức tín dụng hay còn gọi là chất lượng cho vay (Nguyễn Văn Tiến, 2013, trang 122-123). Hiểu đúng về bản chất của chất lượng tín dụng, phân tích và đánh giá đúng chất lượng tín dụng cũng như xác định chính xác các nguyên nhân của những tồn tại về chất lượng tín dụng sẽ giúp cho ngân hàng tìm được biện pháp quản lý thích hợp để hạn chế rủi ro, đảm bảo an toàn và hoạt động hiệu quả, nâng cao sức cạnh tranh và phát triển bền vững. Trong đề tài này, nội dung chỉ tập trung phân tích về chất lượng tín dụng trên góc độ NHTM.2 Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng tín dụng ngân hàng Chất lượng tín dụng là một chỉ tiêu tổng hợp, nó phản ánh độ thích nghi của NHTM với sự thay đổi của môi trường bên ngoài, nó thể hiện sức mạnh của một ngân hàng trong quá trình cạnh tranh để tồn tại và phát triển. Chính vì vậy, để đánh giá được một ngân hàng mạnh hay yếu thì phải đánh giá được chất lượng tín dụng.
Có rất nhiều chỉ tiêu đánh giá chất lượng tín dụng, bao gồm các chỉ tiêu định tính và các chỉ tiêu định lượng.1 Chỉ tiêu định tính Hầu hết các ngân hàng đã xây dựng một cơ chế bảo đảm an toàn tín dụng, nhưng điều không thể tránh khỏi là một số khoản tín dụng vẫn được thể hiện trên sổ sách là những khoản tín dụng có chất lượng kém, tức tín dụng có vấn đề hay nợ xấu. Những biểu hiện của nợ xấu ít nhiều là khác nhau trong các tình huống khác nhau, nhưng một số đặc điểm chung cho hầu hết các khoản tín dụng có vấn đề có thể nêu ra như sau: Tình hình hoạt động của khách hàng: - Thứ nhất, khách hàng vay vốn với tần suất gia tăng, trả nợ vay (nợ gốc và nợ lãi tiền vay) không đúng kỳ hạn hoặc thất thường, thường xuyên đề nghị thay đổi kỳ hạn, xin gia hạn tín dụng, xuất hiện dấu hiệu đảo nợ được biểu hiện bằng mỗi lần vay mới lại trả nợ một phần gốc của khoản vay cũ. Khi các dấu hiệu này gia tăng là biểu hiện của chất lượng cho vay có vấn đề. - Thứ hai, số dư trên tài khoản tiền gửi của khách hàng biến động bất thường và có xu hướng giảm, thường xuyên yêu cầu vay vốn để hỗ trợ vốn lưu động, gia tăng các khoản nợ thương mại phải trả, khó khăn trong việc trả lương và thanh toán các chi phí thường xuyên khác.
- Thứ ba, thường xuyên sử dụng nguồn vốn ngắn hạn để tài trợ cho các hoạt động dài hạn, chấp nhận các nguồn tài trợ với chi phí cao, tài khoản phải thu và hàng 123doc 7 tồn kho tăng bất thường, vốn điều lệ giảm, dựa vào nguồn thu bất thường để trả nợ như bán nhà xưởng, máy móc, thiết bị. - Thứ tư, những thay đổi bất lợi trong cơ cấu nguồn vốn (chỉ tiêu vốn cổ phần trên nợ vay), thanh khoản (chỉ tiêu thanh khoản hiện thời), hay mức độ hoạt động (chỉ tiêu doanh thu trên hàng tồn kho). - Thứ năm, các dấu hiệu khác như uy tín khách hàng suy giảm, khách hàng có đơn kiện, đạo đức của một bộ phận cán bộ bị suy thoái, nội bộ khách hàng tồn tại mâu thuẫn gay gắt… Như vậy, hoạt động kinh doanh của khách hàng giảm sút sẽ kéo theo chất lượng tín dụng của ngân hàng trở nên xấu đi. Khi khách hàng xuất hiện những dấu hiệu kinh doanh giảm sút thì ngân hàng phải tăng cường theo dõi, kiểm tra sát sao các khoản nợ để đề ra các biện pháp xử lý kịp thời, tránh cho tổn thất xảy ra.
Tình hình cung cấp thông tin của khách hàng: - Thứ nhất, bất kỳ sự chậm trễ nào và không có lý do của khách hàng trong việc cung cấp các báo cáo tài chính định kỳ theo thỏa thuận hoặc không báo cáo khi có yêu cầu đột xuất đều là những biểu hiện của chất lượng tín dụng ngân hàng đang bị giảm sút. - Thứ hai, chậm trễ trong việc liên lạc với cán bộ tín dụng trong việc cung cấp các thông tin liên quan đến khách hàng, ngành hàng, hay các nghĩa vụ tài chính đối với các chủ nợ (kể cả nợ thuế), hoặc trì hoãn việc trình các chứng từ tài chính liên quan theo yêu cầu của ngân hàng, hoặc cố tình giả mạo số liệu kế toán để làm đẹp các báo cáo tài chính trình ngân hàng. Ngoài các dấu hiệu nêu trên, thì các chỉ tiêu khác cũng phản ánh chất lượng tín dụng cần xem xét như thu nhập ròng giảm trong một hay nhiều năm, đặc biệt là các chỉ tiêu: tỷ lệ sinh lời trên tổng tài sản (ROA), tỷ lệ sinh lời trên vốn cổ phần (ROE), lợi nhuận trước thuế và lãi vay (EBIT), hay giá cổ phiếu của công ty thay đổi bất lợi… Các biểu hiện trong quản lý tín dụng của ngân hàng: 123doc 8 - Thứ nhất, thay đổi thường xuyên trong chính sách tín dụng, đặc biệt là chính sách quản lý khách hàng, phương thức quản lý khách hàng không thống nhất về ngành hàng, quy mô, địa giới và mức độ xếp hạng tín nhiệm. Sự bất hợp lý trong quản lý khách hàng là dấu hiệu làm phát sinh các rủi ro tín dụng, từ đó ảnh hưởng xấu đến chất lượng tín dụng của ngân hàng.
- Thứ hai, thay đổi chắp vá trong việc thực hiện quy trình nghiệp vụ cho vay đối với khách hàng. Đôi khi do quá chú trọng những khách hàng lớn mà ngân hàng đã bỏ qua, làm tắt các công đoạn và giảm nhẹ các điều kiện tín dụng, bỏ qua các khâu cần thiết trong thẩm định hay giảm nhẹ các điều khoản trong hợp đồng tín dụng, hoặc rút ngắn thời gian thẩm định một cách quá bất hợp lý…Đây cũng là biểu hiện chất lượng cho vay của ngân hàng đang có vấn đề. - Thứ ba, thay đổi thường xuyên cán bộ quản lý tín dụng mà không có lý do chính đáng, bố trí cán bộ có trình độ yếu kém không theo kịp sự phát triển của khách hàng, không nhất quán trong việc xử lý nợ có vấn đề, cán bộ tín dụng có biểu hiện vay ké, nhận hối lộ, cùng khách hàng lập khống giấy tờ, khai khống giá trị tài sản bảo đảm…(Nguyễn Văn Tiến, 2013, trang 124-126).2 Chỉ tiêu định lượng Đây là các chỉ tiêu có ý nghĩa rất quan trọng trong việc đánh giá chất lượng tín dụng, ngân hàng có thể xác định được một cách chính xác chất lượng tín dụng thông qua những con số cụ thể. Có rất nhiều chỉ tiêu, nhưng người ta thường quan tâm đến một số chỉ tiêu sau: Chỉ tiêu về tăng trưởng tín dụng Chỉ tiêu này phản ánh khả năng mở rộng tín dụng của ngân hàng, chỉ tiêu này càng cao càng thể hiện được khả năng của ngân hàng trong việc mở rộng hoạt động tín dụng đối với khách hàng.
Đồng thời tỷ lệ tăng trưởng tín dụng càng cao thì chất lượng 123doc 9 tín dụng ngày càng cải thiện hơn để phù hợp với tăng trưởng tín dụng.