CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ RỦI RO TÍN DỤNG TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Lý luận cơ bản về rủi ro tín dụng 1. Khái niệm tín dụng Khái niệm tín dụng xuất phát từ tiếng Latin Creditium có nghĩa là tín nhiệm, tin tưởng. Theo ngôn ngữ Việt Nam thì tín dụng có nghĩa là sự vay mượn.
Quan hệ tín dụng ra đời trên cơ sở sự tồn tại và phát triển đến 1 mức độ nhất định của nền kinh tế hàng hóa; xã hội bắt đầu xuất hiện chủ thể dư thừa đồng thời có những chủ thể thiếu hụt nguồn vốn. Do vậy, tín dụng ra đời nhằm làm cho quá trình luân chuyển, tuần hoàn vốn trong nền kinh tế được xuyên suốt (Lê Thị Tuyết Hoa và Đặng Văn Dân, 2017). Một cách tổng quát, tín dụng là khái niệm dùng để chỉ mối quan hệ giữa 2 chủ thể: người đi vay và người cho vay. Trong mối quan hệ này, người cho vay (người sở hữu) sẽ chuyển nhượng tạm thời 1 lượng giá trị (tài sản) của mình sang cho người đi vay (người sử dụng) trong 1 khoảng thời gian nhất định.
Người đi vay có nghĩa vụ phải hoàn trả khoản lượng giá trị đã vay cho người cho vay khi đến hạn, có kèm hoặc không kèm theo 1 khoản lãi. Khái niệm tín dụng Ngân hàng Theo Bùi Diệu Anh (2015) thì tín dụng ngân hàng là hoạt động tín dụng diễn ra giữa ngân hàng với các chủ thể khác trong xã hội. Ngân hàng là một định chế tài chính trung gian, do vậy trong quan hệ tín dụng với các chủ thể kinh tế khác ngân hàng có thể vừa là người đi vay, vừa là người cho vay. Một cách tổng quát, tín dụng ngân hàng là việc ngân hàng đồng ý để khách hàng có thể sử dụng một tài sản (có thể là tiền, hiện vật hoặc uy tín) với nguyên tắc hoàn trả thông qua các nghiệp vụ như: cho vay, chiết khấu (tái chiết khấu), cho thuê tài chính, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ khác.
Khái niệm rủi ro tín dụng Có rất nhiều khái niệm khác nhau về RRTD như sau: 8 z - Trong bộ “17 nguyên tắc quản trị RRTD” của Basel 2 được Ủy ban Basel ban hành tháng 9/2000 có đề cập: “RRTD là khả năng bên vay nợ ngân hàng hoặc bên đối tác không đáp ứng nghĩa vụ thanh toán theo các điều khoản đã thỏa thuận”. - Theo 02/2013/TT-NHNN ngày 21 tháng 01 năm 2013 Quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý RRTD của các TCTD, thì RRTD là tổn thất có khả năng xảy ra đối với nợ của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ của mình theo cam kết. - RRTD là rủi ro phát sinh khi một hoặc các bên tham gia hợp đồng tín dụng không có khả năng thanh toán cho các bên còn lại. Từ các định nghĩa trên có thể rút ra các nội dung cơ bản về RRTD như sau: - RRTD trong hoạt động ngân hàng của TCTD là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động ngân hàng của TCTD do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết.
- RRTD xảy ra khi người đi vay trễ hẹn hoặc tồi tệ hơn là không thanh toán trong nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng, bao gồm vốn gốc hoặc lãi phát sinh. RRTD không chỉ giới hạn ở hoạt động cho vay, mà còn bao gồm nhiều hoạt động mang tính chất tín dụng khác như tài trợ thương mại, thấu chi, bao thanh toán. - RRTD sẽ dẫn đến tổn thất tài chính, tức là giảm thu nhập ròng và giảm giá trị thị trường của vốn. Trong trường hợp nghiêm trọng có thể dẫn đến phá sản.
Phân loại rủi ro tín dụng. Căn cứ vào nguyên nhân phát sinh các loại rủi ro. Theo Bùi Diệu Anh (2015) cho rằng rủi ro tín dụng bao gồm rủi ro giao dịch và rủi ro danh mục. Rủi ro giao dịch: là một hình thức của RRTD mà nguyên nhân phát sinh là do những hạn chế trong quá trình giao dịch và xét duyệt cho vay, đánh giá khách hàng.
Rủi ro giao dịch có 3 bộ phận chính là rủi ro lựa chọn, rủi ro bảo đảm và rủi ro nghiệp vụ: - Rủi ro lựa chọn: là rủi ro có liên quan đến quá trình đánh giá và phân tích tín dụng, khi NH lựa chọn những phương án vay vốn có hiệu quả để ra quyết định cho vay. 9 z - Rủi ro bảo đảm: phát sinh từ các tiêu chuẩn bảo đảm như các điều khoản trong hợp đồng cho vay, các loại TSĐB, chủ thể bảo đảm, cách thức đảm bảo và mức cho vay trên giá trị của TSĐB - Rủi ro nghiệp vụ: là rủi ro liên quan đến công tác quản lý khoản vay và hoạt động cho vay, bao gồm cả việc sử dụng hệ thống xếp hạng rủi ro và kỹ thuật xử lý các khoản cho vay có vấn đề. Rủi ro danh mục: là một hình thức của RRTD mà nguyên nhân phát sinh là do những hạn chế trong quản lý danh mục cho vay của NH, được phân chia thành 02 loại: rủi ro nội tại và rủi ro tập trung. - Rủi ro nội tại: xuất phát từ các yếu tố, các đặc điểm riêng có, mang tính riêng biệt bên trong của mỗi chủ thể đi vay hoặc ngành, lĩnh vực kinh tế.
Nó xuất phát từ đặc điểm hoạt động hoặc đặc điểm sử dụng vốn của khách hàng vay vốn. - Rủi ro tập trung: là trường hợp NH tập trung vốn cho vay quá nhiều đối với một số khách hàng, cho vay quá nhiều doanh nghiệp hoạt động trong cùng một ngành, lĩnh vực kinh tế; hoặc trong cùng một vùng địa lý nhất định; hoặc cùng một loại hình cho vay có rủi ro cao. Căn cứ vào nguyên nhân khách quan hay chủ quan Rủi ro khách quan: do các nguyên nhân khách quan gây ra như thiên tai, dịch bệnh, người vay bị chết, mất tích không có người thừa kế hoặc do các biến động khác ngoài dự kiến như làm thất thoát vốn vay trong khi người cho vay đã thực hiện nghiêm túc chế độ chính sách. Rủi ro chủ quan: do các nguyên nhân thuộc về chủ quan của người vay, người cho vay cố ý làm thất thoát vốn vay hay là những lý do chủ quan khác.
Căn cứ vào mức độ tổn thất Rủi ro đọng vốn là rủi ro xảy ra trong trường hợp đến hạn mà KH vẫn chưa thanh toán cho ngân hàng, dẫn đến ngân hàng không cân đối dược giữa nguồn vốn cho vay và nguồn vốn huy động. Điều này làm cho các ngân hàng phải cân đối, tính toán lại nguồn vốn để trả nợ khách hàng, đến một giới hạn nào đó ngân hàng không đủ nguồn vốn để chi trả dẫn đến mất khả năng chi trả, gây ảnh hưởng lớn đến hoạt động và uy tín của ngân hàng. Rủi ro mất vốn là rủi ro khi người vay không có khả năng trả được nợ theo hợp đồng, bao gồm vốn gốc hoặc lãi vay, ngân hàng chỉ trông chờ việc thanh lý tài 10 z sản của khách hàng. Rủi ro mất vốn sẽ làm tăng chi phí do nợ khó đòi tăng, chi phí quản trị, chi phí giám sát; giảm lợi nhuận do trích lập các khoản dự phòng.
Điều này có ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động của ngân hàng, khi khách hàng cố tình không thanh toán hay mất khả năng thanh toán đều mang đến khó khăn cho ngân hàng, việc khách hàng thanh toán cho các khoản đã vay làm tăng thêm các chi phí phát sinh như chi phí giám sát nhằm mục đích giám sát chặt chẽ khoản vay, giám sát khách hàng nhằm thu hồi vốn vay khi khách hàng có điều kiện. Nếu khách hàng sử dụng tài sản để đảm bảo cho khoản vay thì việc ngân hàng bỏ thêm chi phí pháp lý nhằm tăng cường việc thu hồi nợ một cách nhanh chóng từ việc phát mãi tài sản đảm bảo. Ngoài ra, điều này đồng nghĩa với việc lợi nhuận mong muốn của NH giảm, gia tăng nguồn dự phòng nhằm phòng ngừa với nguy cơ mất vốn. Các dấu hiệu nhận biết rủi ro tín dụng Trong hoạt động NH, hoạt động tín dụng chứa đựng rất nhiều rủi ro nhưng cũng có những dấu hiệu cho thấy nguy cơ phát sinh rủi ro và từ đó có thể phòng ngừa nhằm hạn chế tối đa tổn thất cho ngân hàng.
- Thứ nhất là các dấu hiệu tài chính: ngân hàng không nhận được báo cáo tài chính từ người vay một cách kịp thời, các số liệu trong báo cáo tài chính có độ tin cậy thấp, tiền mặt của khách hàng giảm, khả năng thanh khoản/vốn lưu động giảm, những thay đổi nhanh chóng của tài sản cố định, doanh số bán hàng giảm, mức độ chênh lệch giữa doanh thu và doanh thu ròng, xuất hiện các khoản lỗ từ hoạt động kinh doanh, vòng quay hàng tồn kho. - Thứ hai là các dấu hiệu phi tài chính: như giảm sút mạnh số dư tiền gửi tại ngân hàng, công nợ gia tăng, mức độ vay thường xuyên, yêu cầu khoản vay vượt quá nhu cầu dự kiến và chấp nhận sử dụng nguồn tài trợ lãi suất cao, chậm thanh toán nợ gốc và lãi cho ngân hàng. Ngoài ra, khách hàng có sự thay đổi về cơ cấu nhân sự trong hệ thống quản trị, kế toán. Xuất hiện sự bất đồng trong hệ thống điều hành.
- Thứ ba là các dấu hiệu từ hoạt động kinh doanh: thay đổi phạm vi kinh doanh, mất dây chuyền sản xuất chính, quyền phân phối sản phẩm hoặc nguồn cung cấp, khó khăn trong phát triển sản phẩm mới, hoặc không có sản phẩm thay thế. Sản phẩm của khách hàng không có tính thời vụ cao, có biểu hiện cắt giảm chi phí, mất 11 z khách hàng, đối tác chiến lược. Những thay đổi chính sách của nhà nước gây ảnh hưởng đến quá trình kinh doanh như tỷ giá, lãi suất. - Thứ tư là các dấu hiệu rủi ro từ bản thân ngân hàng: tỷ trọng nợ các nhóm 2,3,4,5 tăng cao trong danh mục phân theo hạng nợ cho thấy chất lượng danh mục nợ giảm sút dẫn đến gia tăng trích dự phòng cao hơn tốc độ tăng trưởng dư nợ.
Các tiêu chí đo lường rủi ro tín dụng 1. Tỷ lệ nợ quá hạn Số dư nợ quá hạn Tỷ lệ nợ quá hạn = x 100% Tổng dư nợ Nợ quá hạn là khoản nợ mà một phần hoặc toàn bộ nợ gốc hoặc lãi đã quá hạn. Một cách tiếp cận khác, nợ quá hạn là những khoản tín dụng không hoàn trả đúng hạn, không được phép và không đủ điều kiện để được gia hạn nợ.