phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung của luận văn gồm 4 chƣơng: Chƣơng 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và những vấn đề cơ bản về quản lý rủi ro tín dụng trong hoạt động kinh doanh của NHTM 2 z Chƣơng 2: Phƣơng pháp và thiết kế nghiên cứu Chƣơng 3: Thực trạng quản lý rủi ro tín dụng tại SHB Chi nhánh Hƣng Yên Chƣơng 4: Giải pháp nâng cao công tác quản lý rủi ro tín dụng tại NH TMCP Sài Gòn – Hà Nội Chi nhánh Hƣng Yên 3 z CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ QUẢN LÝ RỦI RO TÍN DỤNG TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu Rủi ro trong hoạt động kinh doanh ngân hàng đã có nhiều công trình nghiên cứu gần đây nhƣ: 1. Tình hình nghiên cứu nước ngoài Trên thế giới có khá nhiều Nhiều nhà khoa học, nhà quản lý kinh tế quan tâm nghiên cứu về quản trị rủi ro tín dụng. Đối với các nguyên nhân gây ra nợ xấu và sự ảnh hƣởng của nợ xấu đến hiệu quả hoạt động kinh doanh ngân hàng, phải kể đến nghiên cứu của Keeton, William và Morris (1987).
Trong nghiên cứu của mình, tác giả đã thực hiện nghiên cứu trên các NHTM bị thua lỗ tại Hoa Kỳ trong giai đoạn 1979-1985 đồng thời sử dụng tỷ lệ nợ xấu làm thƣớc đo chính cho việc đo lƣờng rủi ro tín dụng tại các ngân hàng này. Mô hình kiểm định đã chỉ ra rằng các điều kiện kinh tế riêng biệt địa phƣơng cùng với sự yếu kém trong hoạt động quản lý ngân hàng là các nguyên nhân chính dẫn đến rủi ro tín. Nghiên cứu này cũng cho thấy rằng các NHTM sẵn sàng cho vay những món mạo hiểm thƣờng có rủi ro vỡ nợ cao hơn so với các ngân hàng khác. Một số nghiên cứu tiếp theo sau nghiên cứu của Keeton, William và Morris (1987) cũng lý giải tƣơng tự về các yếu tố gây ra nợ xấu đối với các khoản cho vay tại Mỹ.
Ví dụ nghiên cứu của Sinkey, Joseph. F và Greenwalt (1991) thực hiện trên các NHTM lớn ở Mỹ lập luận rằng cả hai yếu tố bên trong và bên ngoài ngân hàng đều là tác nhân gây ra sự đổ vỡ tín dụng. Tác giả tìm thấy một mối quan hệ thuận chiều giữa tỷ lệ nợ xấu trong các khoản cho vay với các yếu tố chủ quan của ngân hàng nhƣ cho vay với lãi suất cao, hay cho vay nhiều quá mức…. Tại Châu Á, Rajan, Rajiv và Dhal (2003) đã sử dụng bảng phân tích hồi quy để chỉ ra rằng những điều kiện kinh tế vĩ mô thuận lợi (tính bằng sự tăng trƣởng GDP) và các yếu tố tài chính, các điều kiện tín dụng, quy mô ngân hàng, chiến lƣợc tín dụng tác động đáng kể đến các khoản nợ xấu tại các NHTM ở Ấn Độ.
Tình hình nghiên cứu trong nước Ở trong nƣớc, đã có khá nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến vấn đề quản lý rủi ro tín dụng trong NHTM nhƣ: Luận văn thạc sỹ của Nguyễn Tuấn Anh (2004), Bùi Thị Thu Lan (2005), Vũ Hữu Biên (2010) nghiên cứu về vấn đề nợ xấu tại Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn. Luận văn thạc sỹ của Nguyễn Thành Đô (2005), Mạc Đình Khuyến (2006), Nguyễn Thị Vân Huyền (2010), Cù Hoài Thanh (2010) nghiên cứu về các giải pháp nhằm hạn chế và xử lý nợ xấu tại Ngân hàng Ngoại thƣơng Việt Nam. Tuy nhiên các công trình này chƣa đi sâu nghiên cứu cách nhận biết, đo lƣờng, xây dựng giới hạn tỷ lệ nợ xấu áp dụng cho từng ngân hàng đến việc tiếp cận cách tính trích lập dự phòng theo tiêu chuẩn quốc tế. Luận án “ Đảm bảo an toàn trong hoạt động tín dụng của các NHTM CP trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh”, Lê Tấn Phƣớc (2007).
Tác giả đã làm rõ thêm các khái niệm và lý luận trong việc đảm bảo an toàn và nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng tại các ngân hàng. Bên cạnh đó tác giả còn đƣa ra những dự báo về xu hƣớng phát triển của nền kinh tế trong khu vực và trên thế giới từ đó đề ra những giải pháp khả thi góp phần đảm bảo an toàn trong hoạt động tín dụng của các NHTM CP trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh. Tuy nhiên trong luận án, tác giả vẫn chƣa đƣa ra đƣợc những bất cập trong hoạt động quản lý rủi ro, vốn đƣợc coi là một nhân tố rất quan trọng góp phần đảm bảo an toàn tín dụng cho hệ thống ngân hàng. Nghiên cứu của tác giả Phạm Quý Hoà (1994) đã chỉ ra những giải pháp cần thiết để phòng ngừa rủi ro tín dụng trong hoạt động kinh doanh của Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam.
Luận án tiến sĩ của Nguyễn Hữu Thủy (1996) đề cập tới việc hạn chế rủi ro tín dụng tại các NHTM Việt Nam. Nhƣ vậy, hai nghiên cứu này đều đặt ra đối tƣợng nghiên cứu là vấn đề rủi ro tín dụng của ngân hàng, từ đó phân tích thực trạng rủi ro tín dụng tại các NHTM Việt Nam và đƣa ra các giải pháp hạn chế và phòng ngừa. Tuy nhiên, hai nghiên cứu này vẫn chƣa đƣa ra một mô hình quản lý rủi ro tín dụng cụ thể. Luận án của tác giả Nguyễn Thị Thu Đông (2012) với đề tài: “ Nâng cao chất lƣợng tín dụng tại ngân hàng TMCP Ngoại Thƣơng Việt Nam trong quá trình hội nhập”.
5 z Tác giả đã đƣa ra quan niệm về chất lƣợng tín dụng ngân hàng theo tiêu chuẩn quốc tế. Đồng thời trên cơ sở nguồn số liệu thứ cấp của VCB từ năm 2006 – 2010, luận án đã phản ánh thực trạng chất lƣợng tín dụng của VCB trong điều kiện hội nhập. Tác giả cũng rất thành công trong việc áp dụng mô hình hồi quy logistic để kiểm định mô hình và giả thiết nghiên cứu trong việc phân tích các yếu tố ảnh hƣởng đến xếp hạng tín dụng của khách hàng pháp nhân tại VCB – chi nhánh Đà Nẵng. Tác giả cũng đề xuất khả năng ứng dụng mô hình đó trong công tác nâng cao chất lƣợng tín dụng tại ngân hàng.
Ngoài ra, vấn đề rủi ro tín dụng còn đƣợc đề cập ở một số công trình nghiên cứu khoa học khác. Đề tài nghiên cứu cấp Viện của Lê Thị Kim Nga (2001) về “Những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý rủi ro tín dụng của các NHTM Việt Nam” đã giải thích những vấn đề cơ bản về quản lý rủi ro tín dụng và đề xuất khung quản lý rủi ro tín dụng cho các NHTM Việt Nam. Và đã có một số công trình nghiên cứu sâu về hoạt động tín dụng, quản lý RRTD đăng trên các tạp chí nhƣ: TS. Trần Huy Hoàng, Hạn chế nguy cơ rủi ro hoạt động tín dụng của các NHTM Việt Nam, Phát triển kinh tế, tháng 12 năm 2004.TS Nguyễn Đình Tự, Tiếp cận để giảm thiểu rủi ro trong hoạt động của Ngân hàng thƣơng mại, Tạp chí Ngân hàng, Số chuyên đề năm 2005.
Trần Trung Tƣờng, Giải pháp hạn chế rủi ro tín dụng trong giai đoạn hiện nay, Tạp chí Khoa học đào tạo Ngân hàng, trang 39- 43, số 09, tháng 09/2005. Tuy nhiên chƣa có công trình nào nghiên cứu độc lập về quản lý rủi ro tín dụng của Ngân hàng thƣơng mại cổ phần Sài Gòn – Hà Nội – Chi nhánh Hƣng Yên, đặc biệt nghiên cứu vấn đề này theo cách tiếp cận khoa học quản lý kinh tế.2 Tín dụng Ngân hàng và rủi ro tín dụng trong hoạt động kinh doanh của Ngân hàng thƣơng mại 1.1 Tổng quan về tín dụng ngân hàng 1.1 Khái niệm về tín dụng ngân hàng Thuật ngữ "tín dụng" (credit) xuất phát từ chữ Latinh là Credo (Haldane A, 2009) nghĩa là tin tƣởng, tín nhiệm. Trong thực tế, thuật ngữ tín dụng đƣợc hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau, tùy theo từng đối tƣợng và hoàn cảnh cụ thể mà thuật ngữ tín dụng có một nội dung riêng. 6 z Xét về khía cạnh tiền tệ, tín dụng là quan hệ vay mƣợn, gồm cả cho vay và đi vay.
Mối quan hệ tín dụng bao gồm hai mặt cơ bản: - Là quan hệ vay mƣợn về vốn giữa hai đối tác: Một đối tác là chủ thể cho vay còn đối tác khác là ngƣời đi vay. - Là quan hệ hoàn trả: Sự dịch chuyển vốn giữa hai đối tác là sự dịch chuyển quyền sử dụng vốn tạm thời trong thời gian nhất định theo thỏa thuận. Ngƣời vay phải có trách nhiệm hoàn trả cả gốc và lãi cho ngƣời sở hữu vốn một cách vô điều kiện khi đến hạn thanh toán. Sự hoàn trả là đặc trƣng của hoạt động tín dụng.
Tín dụng ngân hàng là quan hệ vay mượn giữa ngân hàng với các cá nhân, doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế xã hội và các tổ chức tín dụng khác theo nguyên tắc có hoàn trả. Theo Luật Các tổ chức tín dụng của nƣớc ta, tổ chức tín dụng đƣợc cấp tín dụng cho tổ chức, cá nhân dƣới các hình thức cho vay, chiết khấu thƣơng phiếu và giấy tờ có giá khác, bảo lãnh, cho thuê tài chính và các hình thức khác theo quy định của Ngân hàng Nhà nƣớc. Hoạt động tín dụng là việc tổ chức tín dụng sử dụng nguồn vốn của mình (bao gồm: Vốn tự có và vốn huy động) để cấp tín dụng. Nguyên tắc của việc cấp tín dụng theo Quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng ban hành kèm theo Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31/12/2001 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nƣớc là: - Khách hàng phải sử dụng vốn vay đúng mục đích theo thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng.
- Khách hàng phải hoàn trả nợ gốc và lãi vốn vay đúng thời hạn đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng. Việc cấp tín dụng phải tuyệt đối tuân theo nguyên tắc này. Đây là hai điều kiện tiên quyết trong việc xem xét cấp tín dụng cho khách hàng để đảm bảo tính an toàn và khả năng sinh lời trong hoạt động tín dụng Hoạt động tín dụng là hoạt động quan trọng nhất của các NHTM bởi tỷ trọng thu nhập do hoạt động tín dụng mang lại chiếm tỷ lệ cao trong tổng thu nhập của ngân 7 z hàng. Tuy nhiên đây cũng là hoạt động có rủi ro cao nhất trong tất cả các hoạt động của NHTM và khi rủi ro xảy ra thì hậu quả là rất lớn.2 Đặc trưng của tín dụng ngân hàng Quan hệ tín dụng có bốn đặc trƣng cơ bản là: Lòng tin, tính hoàn trả, tính thời hạn và ẩn chƣa nhiều khả năng rủi ro.