CHƯƠNG 1 N H Ữ N G V Ấ N Đ È C H U N G V È C H Ấ M Đ IỂ M T ÍN D Ụ N G V À X Ế P H Ạ N G T ÍN N H IỆ M D O A N H N G H IỆ P 1. MỘT SÓ VẤN ĐÈ LÝ LUẬN VẺ CHẤM ĐIỂM TÍN DỤNG VÀ XẾP HẠNG TÍN NHIỆM 1. Khái niệm chẩm điểm tín dụng Chấm điểm tín dụng là một quy trình đánh giá khả năng, xác xuất thực hiện các nghĩa vụ tài chính của một doanh nghiệp đối với ngân hàng như trả gốc và lãi vay khi đến hạn hoặc vi phạm các điều kiện tín dụng khác nhằm xác định mức độ rủi ro trong hoạt động tín dụng của ngân hàng. Mức độ rủi ro tín dụng thay đối theo từng khách hàng và được xác định thông qua quá trình đánh giá bằng thang điểm, dựa vào các thông tin tài chính và phi tài chính có sẵn của khách hàng tại thời điểm chấm điểm tín dụng ,từ đó có the có những thông tin quan trọng đế đạnh giá mức độ rủi ro của từng khách hàng.
Đó cũng là cơ sở để đưa ra các quyết định về tín dụng như : hạn mức tín dụng, lãi suất áp dụng, thời hạn cho vay. Đối với từng loại khách hàng khác nhau thì áp dụng những chỉ tiêu và thang điếm khác nhau. Hiện nay, thông thường các Ngân hàng phân khách hàng ra làm 3 loại chính là: tổ chức tài chính, doanh nghiệp, cá nhân. Các nguyên tắc chấm điểm tín dụng Phương pháp truyền thống ra đời từ đầu thế kỷ 20 với mục tiêu cơ bản là dự đoán khả năng vỡ nợ và dự đoán giá trị hợp đồng tại những thời điếm có khả năng vỡ nợ bằng việc phân tích các yếu tố định tính và định lượng.
Quá trình phân tích dựa trên những nguyên tắc sau: a) Nguyên tắc 1: Phân tích các yếu tố định tính và định lượng 5 Các chỉ tiêu liên quan đến xếp hạng bao gồm: Các dữ liệu định lượng: Là những quan sát được đo lường bằng số. Ví dụ như những chỉ tiêu lơi nhuận trước thuế, chi phí trả lãi vay, vốn lưu động. Các dữ liệu định tính: Những quan sát không đo lường được bằng số thuộc về loại dữ liệu này. Trong tập dữ liệu định tính mỗi quan sát sẽ và chỉ thuộc về một kiểu loại nào đó.
Ví dụ như tình hình cạnh tranh, xu hướng thị trường, vị thế kinh doanh của công ty, sự đa dạng hoác hoạt động và các luật lệ, quy định. b) Nguyên tắc 2: Việc phân tích được tiến hành bằng phương pháp trên xuống theo trình tự sau: Phân tích rủi ro mang tính vĩ mô về xu hướng của quốc gia, ngành Phân tích rủi ro hoạt động kinh doanh như tình hình cạnh tranh, xu hướng thị trường, vị thế kinh doanh của công ty, sự đa dạng hoá hoạt động và các hoạt động và các luật lệ, quy định. Phân tích rủi ro tài chính bao gồm hàng loạt các chỉ tiêu phụ thuộc vào từng ngành nghề, kết hợp so sánh giữa rủi ro tài chính với rủi ro trong kinh doanh, xem xét độ linh hoạt tài chính cũng như các chính sách tài chính. Phân tích hướng phát triển của công ty như chất lượng ban quản lý và chiến lược kinh doanh phân tích tình trang pháp lý của nhà phát hành và các cam kết của đợt phát hành.
c) Nguyên tắc 3: Đơn giản, dễ hiểu, dễ so sánh, xây dựng hệ thống các chỉ tiêu, sau đó tổng họp lại và phản ánh qua biểu tượng xếp hạng thep mẫu tự Latin. Kết quả chấm điểm được sử dụng để phân nhóm các khoản vay theo mức độ rủi ro. 6 Trong quá trình chấm điểm CBTD sẽ thu được điểm ban đầu và điểm tổng hợp để xếp hạng khách hàng. Điểm ban đầu: là điểm của từng chỉ tiêu chấm điểm tín dụng, CBTD xác định được sau khi phân tích chỉ tiêu đó.
Điểm tổng họp để xếp hạng KH bằng điểm ban đầu nhân với trọng số. Trọng số là mức độ % xác định độ quan trọng của từng chỉ tiêu chấm điểm tín dụng. Quy trình chấm điểm tín dụng a) Bước ỉ: Thu thập và xử lý thông tin Đây là bước đầu tiên đặt nền móng cho quy trình chấm điểm tín dụng. Các thông tin thu thập để sử dụng ừong quá trình chẩm điểm tín dụng cần phải đầy đủ và toàn diện, bao gồm cả thông tin tài chính và thông tin phi tài chính.
Các thông tin tài chính như : bảng cân đối kế toán, báo cáo kết quả kinh doanh, báo cáo lưu chuyển tiền tệ, trong vài năm gần nhất.Những báo cáo này cần được kiếm tra kỹ lưỡng về độ chính xác và tính trung thực củ chúng.Các cán bộ tín dụng có thể kiểm tra điều này qua khảo sát thực tế các khách hàng, và cần thiết phải có sự thận trọng nhất định, đặc biệt là những báo cáo chưa được kiểm toán. Các thông tin phi tài chính như : các giấy tờ pháp lý liên quan đến doanh nghiệp bao gồm giấy phép thành lập doanh nghiệp, mã số thuế, giấy đăng kí kinh doanh, điều lệ của doanh nghiệp. Ngoài ra, cần quan tâm đến các nguồn thông tin khác có liên quan như : các dữ liệu kinh tể của từng ngành, từng lĩnh vực do hiệp hội, đoàn thế cung cấp, các thông tin từ tạp chí, ấn phẩm của doanh nghiệp, ngành hoặc các thông tin từ đối thủ cạnh tranh của doanh nghiệp. Thông tin được thu thập qua hồ sơ vay vốn của khách hàng, qua thông tin lưu trữ tại ngân hàng, qua phỏng vấn trực tiếp, qua thăm thực địa doanh nghiệp.
7 Sau khi thu thập thông tin cần tiến hành kiểm tra đổi chiếu, làm sạch để đảm bảo tính trung thực, minh bạch và có nguồn gổc rõ ràng trước khi đưa vào phân tích và lưu trư để tạo kho dữ liệu tại ngân hàng, từ đó sẽ có thông tin về doanh nghiệp trong nhiều năm liên tục, qua đó thấy được xu hướng phát triển lâu dài của các doanh nghiệp. Dù tiếp cận và thu thập thông tin, tài liệu theo nguồn nào thì mỗi cán bộ tín dụng cũng cần phải xem xét, đánh giá và xác định mức độ tin cậy của từng nguồn thông tin để có thể đưa ra cái nhìn khách quan trong quá trình chấm điểm tín dụng. b) Bước 2: Phân loại ngành nghề, lĩnh vực sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Do đặc trưng của mỗi ngành nghề khác nhau về chu kì kinh doanh, mức tăng trưởng, mức vổn, cơ cấu chi phí, khả năng sinh lời, mức độ cạnh tranh, mức độ ảnh hưởng của luật pháp tới ngành nghề đó. nên xây dựng một hệ thống chấm điểm tín dụng cần tính đến yếu tổ ngành nghề là tất yếu.
Hệ thống phân loại ngành kinh tế dùng để chấm điểm tín dụng và xếp hạng daonh nghiệp phải phù hợp với trình độ phát triển nền kinh tế và môi trường pháp lý của từng quốc gia. c) Bước 3: Xác định quy mô của doanh nghiệp Quy mô của doanh nghiệp cũng là một yếu tố cần phải xét đến, bởi nó quyết định đến vị thế cạnh tranh của doanh nghiệp, khả năng kinh doanh thu lợi, khả năng trả nợ. Doanh nghiệp sẽ khó có thể tiến hành đa dạng hoá hoạt động để giảm rủi ro kinh doanh và nâng cao ưu thế cạnh tranh khi quy mô của nó quá nhỏ, bởi những doanh nghiệp này không có những ưu thế về quy mô sản xuất, tiêm năng nhân sự và tiềm lực về mặt tài chính. Những doanh nghiệp có quy mô nhỏ thường chỉ thiên về về kinh doanh một loại sản phấm, nên vị thế tín dụng sẽ bị đánh giá thấp hơn.
Tuy nhiên, lợi thế của những doanh nghiệp là bộ máy tổ chức gọn nhẹ, kinh doanh đơn giản, hiệu quả. 8 d) Bước 4: Chẩm điểm các chỉ tiêu tài chính e) Bước 5: Chấm điểm các chỉ tiêu phi tài chính 1. Nội dung chấm điểm tín dụng a) Chấm điểm quy mô của doanh nghiệp Quy mô của doanh nghiệp là một yếu tố cần được xét đến khi xếp hạng và chấm điểm doanh nghiệp. Với mỗi doanh nghiệp có quy mô khác nhau thì việc chấm điểm tín dụng và quyết định cho vay của ngân hàng đối với doanh nghiệp sẽ khác nhau.
Nếu doanh nghiệp có quy mô quá nhỏ thì sẽ không có lợi thế về quy mô sản xuất, tiềm năng nhân sự, tiềm lực tài chính cũng sẽ kém và thường có xu hướng thiên về kinh doanh một loại sản phẩm và đôi khi có những sản phẩm mang tính chất thời vụ. từ đó khó có thể đa dạng hóa hoạt động kinh doanh để giảm thiểu rủi ro, nên vị thế tín dụng có thể bị đánh giá thấp hơn. Và một doanh nghiệp có quy mô lớn thì ngược lại. - Các chỉ tiêu sử dụng để chấm điểm và xác định quy mô của doanh nghiệp bao gồm 4 chỉ tiêu: nguôn vôn kinh doanh, lao động, doanh thu thuân và giá trị nộp NSNN.
b) Chẩm điểm các chỉ số tài chính Sau khi xác định được ngành nghề và quy mô doanh nghiệp, ngân hàng sẽ chấm điểm các chỉ tiêu tài chính. Việc chấm điểm các chỉ tiêu tài chính giúp ngân hàng đánh giá tình hình tài chính của doanh nghiệp. Mồi doanh nghiệp thuộc ngành nghề lĩnh vực sản xuất kinh doanh khác nhau, quy mô khác nhau sẽ có tiêu chuẩn châm điểm khác nhau theo bảng hướng dẫn chấm điểm các chỉ tiêu tài chính. Các chỉ tiêu tài chính được ngân hàng sử dụng gồm có: - Khả năng thanh toán ngắn hạn Khả năng thanh toán ngắn hạn = Tài sản lưu động / Nợ ngăn hạn 9 Kết quả được biểu thị bằng số lần, cho thấy mối liên hệ giữa tài sản có ngắn hạn và tài sản nợ ngắn hạn để xem xét sự an toàn của việc tài trợ cho nợ ngăn hạn.
Hệ số này giúp kiểm tra trạng thái vốn lưu động và tính thanh khoản của doanh nghiệp, cho biết doanh nghiệp có đủ tài sản ngắn hạn để đáp ứng nghĩa vụ nợ ngắn hạn hay không. - Khả năng thanh toán nhanh Khả năng thanh toán nhanh = Tài sản lưu động - Hàng tồn kho) / Nợ ngắn hạn. Trong chỉ tiêu khả năng thanh toán ngắn hạn, tài sản lưu động có bao gồm cả hàng tồn kho, đây là một khoản mục rất khó chuyển đổi thành tiền để đảm bảo khả năng thanh toán nợ tức thời khả năng thanh khỏan thấp), vì vậy để khắc phục nhược điểm này ta sử dụng Hệ số Khả năng thanh tóan nhanh. Chỉ tiêu này cho biết khả năng thanh tóan các khoản nợ ngắn hạn của doanh nghiệp bằng tài sản lưu động nhưng không phụ thuộc vào việc bán hàng tồn kho.