Chương 1: Cơ sở lý luận về chất lượng tín dụng doanh nghiệp nhỏ và vừa tại ngân hàng thương mại; Chương 2: Thực trạng chất lượng tín dụng doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam – Chi nhánh Hà Giang; Chương 3: Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam – Chi nhánh Hà Giang. 8 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƢỢNG TÍN DỤNG DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Tổng quan về tín dụng doanh nghiệp nhỏ và vừa của ngân hàng thƣơng mại 1. Khái niệm và đặc điểm của doanh nghiệp nhỏ và vừa 1.
Khái niệm doanh nghiệp nhỏ và vừa Để thuận lợi cho việc quản lý, hỗ trợ các doanh nghiệp, các nước thường dựa theo tiêu thức quy mô để phân loại. Theo tiêu thức này, doanh nghiệp được chia thành: doanh nghiệp quy mô lớn, DNNVV. Tiêu chí xác đ nh thường dựa vào các yếu tố: vốn, lao động, doanh thu,. Tùy từng nước có thể dùng một, hai, hoặc cả ba tiêu chí để phân biệt.
Sự khác nhau về tiêu chí xác đ nh là hoàn toàn khách quan, phụ thuộc vào điều kiện, trình độ phát triển cũng như các chính sách, biện pháp hỗ trợ và đ nh hướng phát triển của mỗi nước. Ở Việt Nam, đ nh nghĩa DNNVV được quy đ nh tại Luật Số: 20/VBHN- VPQH Luật Hỗ trợ DNNVV ban hành ngày 15/07/2020, DNNVV được phân theo quy mô bao gồm doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ, doanh nghiệp vừa. Theo đó, doanh nghiệp nhỏ có số vốn tham gia từ 20 tỷ đồng trở xuống và số lao động từ trên 10 người đến 200 người; doanh nghiệp vừa có số vốn tham gia từ trên 20 tỷ đồng đến 100 tỷ đồng và số lao động từ 300 người trở xuống. Cụ thể, tiêu chí để xác đ nh DNNVV như bảng 1.
Như vậy, một tổ chức được xác đ nh là một DNNVV khi: + Là cơ sở kinh doanh đã đăng kí kinh doanh theo quy đ nh của pháp luật. + Có số lao động bình quân năm hoặc quy mô tổng nguồn vốn/tổng tài sản đáp ứng theo quy đ nh, được chia thành 3 cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa. + Tiêu chí xác đ nh loại hình doanh nghiệp (siêu nhỏ, nhỏ hay vừa) đối với từng ngành nghề khác nhau thì khác nhau. Đối với doanh nghiệp hoạt động trong 9 lĩnh vực thương mại và d ch vụ, yêu cầu về số lượng lao động hoặc quy mô tài sản đều ít hơn so với doanh nghiệp hoạt động trong ngành nông nghiệp hoặc công nghiệp và xây dựng.
Phân loại doanh nghiệp nhỏ và vừa của Việt Nam Quy mô Lĩnh vực Doanh nghiệp siêu Doanh nghiệp Doanh nghiệp nhỏ nhỏ vừa Số lao động tham Số lao động tham Số lao động tham gia BHXH bình gia BHXH bình Nông, lâm gia BHXH bình quân quân <= 100 người/ quân <= 200 nghiệp <= 10 người/ năm năm người/ năm Thủy sản Tổng doanh thu =< 3 Tổng doanh thu =< Tổng doanh thu Công nghiệp tỷ/năm 50 tỷ/năm =< 300 tỷ/năm Xây dựng Hoặc tổng nguồn Hoặc tổng nguồn Hoặc tổng nguồn vốn <= 3 tỷ vốn <= 20 tỷ vốn <= 100 tỷ Số lao động tham Số lao động tham Số lao động tham gia BHXH bình gia BHXH bình gia BHXH bình quân =< quân =< 50 quân =< 100 10 người/năm Thương mại người/năm người/năm Tổng doanh thu <= 10 D ch vụ Tổng doanh thu <= Tổng doanh thu tỷ/năm 100 tỷ/năm <= 300 tỷ/năm Hoặc Tổng nguồn Hoặc Tổng nguồn Hoặc Tổng nguồn vốn <= 3 tỷ vốn <= 50 tỷ vốn <= 100 tỷ (Nguồn: Quốc Hội (2020), Luật Hỗ trợ DNNVV) 1. Đặc điểm của doanh nghiệp nhỏ và vừa DNNVV thường có những đặc điểm như sau: DNNVV có quy mô vốn hạn chế, đa phần là vốn tự có và khả năng tiếp cận vốn tín dụng thấp. Để bắt đầu hoạt động sản xuất kinh doanh, DNNVV chỉ cần một lượng vốn đầu tư ban đầu không lớn, diện tích mặt bằng nhỏ hoặc có thể tận dụng chính nhà cửa của chủ sở hữu,… Điều này tạo cho DNNVV lợi thế hơn so với doanh nghiệp lớn như thành lập và gia nhập th trường dễ dàng, vốn đầu tư được thu 10 hồi nhanh do lĩnh vực DNNVV tham gia có chu kỳ sản xuất ngắn, không đỏi hỏi đầu tư trang thiết b công nghệ nhiều,… Nhưng do hạn chế về quy mô vốn nên DNNVV có những bất lợi trong hoạt động sản xuất kinh doanh và trong việc tiếp cận vốn tín dụng. Với số vốn đầu tư ban đầu hạn chế, trong khi nhu cầu mở rộng sản xuất kinh doanh, yêu cầu đổi mới nâng cấp thiết b , đầu tư công nghệ mới ngày càng tăng dẫn đến việc DNNVV dễ lâm vào tình trạng thiếu vốn, trong khi đó việc tiếp cận vốn tín dụng thường gặp phải rất nhiều khó khăn do DNNVV không đủ tài sản thế chấp khi vay vốn, trongkhi đó khả năng lập hồ sơ vay vốn, kế hoạch sản xuất kinh doanh của DNNVV lại hạn chế,… DNNVV có lĩnh vực đầu tư sản xuất kinh doanh đa dạng.
Những lợi thế của DNNVV như quy mô, tiềm lực tài chính nhỏ, linh hoạt trong kinh doanh, dễ thành lập, dễ ra nhập th trường, khả năng thu hồi vốn nhanh,… đã tạo điều kiện cho các DNNVV hoạt động dưới nhiều loại hình doanh nghiệp, trên nhiều lĩnh vực, ngành nghề khác nhau. Nhờ quy mô vốn đầu tư nhỏ, khai thác tốt nguồn lao động và nguyên vật liệu sẵn có tại đ a phương, nắm bắt và đáp ứng nhanh chóng được những thay đổi của th trường nên DNNVV ngày càng đóng vai trò quan trọng trong ổn đ nh đời sống xã hội, thúc đẩy và phát triển kinh tế của đ a phương và đất nước. DNNVV có số lượng lao động hạn chế, lao động có trình độ và tay nghề cao không nhiều. DNNVV sử dụng số lao động hạn chế, lao động thường có trình độ tay nghề không cao, chủ yếu là lao động phổ thông.
Do hạn chế về nguồn tài chính, môi trường làm việc cũng như chế độ đãi ngộ nên DNNVV khó tuyển dụng được lao động có trình độ và tay nghề cao. Người lao động được đào tạo ở DNNVV chiếm một tỷ lệ không lớn. Ngoài ra, cơ hội thăng tiến cũng như tín ổn đ nh và chế độ phúc lợi thấp khi làm việc ở DNNVV đã không đủ sức thu hút đối với những lao động có trình độ chuyên môn, năng lực và tay nghề cao. Thực tế này dẫn đến tình trạng DNNVV gặp nhiều khó khăn, đặc biệt trong quản tr tài chính và xây dựng, quản lý, thực hiện các dự án đầu tư/phương án sản xuất kinh doanh.
11 Đội ngũ lãnh đạo DNNVV năng động nhưng năng lực quản tr chưa cao. Bộ máy quản lý điều hành doanh nghiệp khá tinh gọn. DNNVV có đặc điểm là số lượng lao động hạn chế, công tác quản lý thường do chủ doanh nghiệp trực tiếp thực hiện, xử lý công việc hầu như được chuyển thẳng từ chủ doanh nghiệp đến từng nhân viên mà không cần qua nhiều cấp quản lý trung gian. Điều này làm hiệu quả quản tr điều hành của DNNVV tăng lên, tiết kiệm được chi phí quản lý, nhanh chóng.
Tuy nhiên, việc phân công công việc trong DNNVV thường có hiện tượng đa nhiệm, mức độ chuyên môn hóa không cao, người lao động phải đảm nhận nhiều công việc chuyên môn khác nhau. DNNVV có khả năng tiếp cận th trường thấp, gặp nhiều khó khăn khi hội nhập kinh tế quốc tế. Các DNNVV không đủ nguồn lực để có thông tin đầu vào và tiêu thụ sản phẩm. Từ đó, mà khả năng hội nhập th trường khu vực và các nước của các DNNVV còn hạn chế.
DNNVV thường không dành kinh phí lớn cho hoạt động marketing nên việc xây dựng và đ nh v thương hiệu trên th trường còn nhiều hạn chế, khó vươn ra th trường quốc tế. Th phần của doanh nghiệp nhỏ và vừa không lớn, khả năng chi phối th trường không cao. Th trường thường phản ứng ít quyết liệt, thậm chí không có phản ứng trước những thay đổi chiến lược kinh doanh của DNNVV. Khái niệm tín dụng doanh nghiệp nhỏ và vừa Tính đến thời điểm hiện tại, có nhiều khái niệm khác nhau về tín dụng.
Theo l ch sử ra đời của tín dụng, ban đầu khái niệm đơn giản về tín dụng là: “Tín dụng là những quan hệ vay mượn có sự hoàn trả cả gốc và lãi sau một thời gian nhất đ nh, sự thoả thuận giữa người đi vay và người cho vay về số tiền vay, lãi suất, thời hạn và phương thức trả nợ (trả một lần hay trả dần)” (Nguyễn Đăng Dờn và cộng sự, 2014). Nhưng nếu chỉ hiểu theo nghĩa đơn giản này thì tín dụng mới chỉ phản ánh ở một khía cạnh nào đó, còn mang tính chất chung chung, chưa bao trùm được cái tổng thể của tín dụng. Do vậy về sau khái niệm tương đối đầy đủ về tín dụng như sau: “Tín dụng là quan hệ chuyển nhượng tạm thời một lượng giá tr (dưới hình thức tiền tệ hay hiện vật) từ người sở hữu sang người sử dụng để sau một thời gian 12 nhất đ nh thu hồi về một lượng giá tr lớn hơn lượng giá tr ban đầu” (Nguyễn Đăng Dờn và cộng sự, 2014). Phan Th Thu Hà (2009) cho rằng “một quan hệ tín dụng phải thoả mãn: (i) Là quan hệ chuyển nhượng giá tr mang tính chất tạm thời; (ii) Đảm bảo tính hoàn trả về thời gian và giá tr ; (iii) Quan hệ tín dụng được xây dựng trên cơ sở sự tin tưởng giữa người cho vay và người đi vay.” Theo Nguyễn Văn Tiến (2013), tín dụng của NHTM là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khẩu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác.
Trong luận văn này, tín dụng của NHTM có thể được hiểu là quan hệ/hình thức tín dụng tiền tệ, trong đó các NHTM cho vay các chủ thể khác nhau trong nền kinh tế bằng tiền. Nói cách khác, chủ thể của tín dụng ngân hàng là các NHTM và các đối tượng khách hàng (cá nhân, doanh nghiệp), đối tượng vay mượn là tiền tệ - khác với các loại hình tín dụng khác như tín dụng thương mại, tín dụng nhà nước hay tín dụng thuê mua. Dựa vào khái niệm tín dụng được trình bày ở trên, có thể hiểu tín dụng DNNVV như sau: Tín dụng DNNVV được hiểu là quan hệ vay mượn giữa một bên là ngân hàng và một bên là các DNNVV.