Chương 1: Lý luận về chất lượng tín dụng trong cho vay doanh nghiệp xây lắp tại Ngân hàng thương mại. Chương 2: Thực trạng chất lượng tín dụng trong cho vay doanh nghiệp xây 7 lắp tại Ngân hàng thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Hà Tây. Chương 3: Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng trong cho vay doanh nghiệp xây lắp tại Ngân hàng thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Hà Tây. LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG TRONG CHO VAY DOANH NGHIỆP XÂY LẮP TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.Tổng quan về tín dụng ngân hàng thương mại đối với doanh nghiệp xây lắp 1.
Khái niệm, đặc điểm doanh nghiệp xây lắp 1. Khái niệm Theo Luật Doanh nghiệp số 68/2014/QH13 ngày 26/11/2014, “Doanh nghiệp là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh”. Doanh nghiệp xây lắp là các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế được thành lập theo quy định của pháp luật, có đăng ký ngành nghề kinh doanh trong lĩnh vực xây lắp. Doanh nghiệp xây lắp thường được gọi là Nhà thầu.
Để hiểu rõ hơn về doanh nghiệp xây lắp, cần làm rõ khái niệm về lĩnh vực hoạt động xây lắp. Hoạt động “xây lắp” là thi công xây dựng công trình bao gồm xây dựng và lắp đặt thiết bị đối với các công trình xây dựng mới, sửa chữa, cải tạo, di dời, tu bổ, phục hồi; phá dỡ công trình; bảo hành, bảo trì công trình. Trong đó: Công trình xây dựng là sản phẩm được tạo thành bởi sức lao động của con người, vật liệu xây dựng, thiết bị lắp đặt vào công trình, được liên kết định vị với đất, có thể bao gồm phần dưới mặt đất, phần trên mặt đất, phần dưới mặt nước và phần trên mặt nước, được xây dựng theo thiết kế. Công trình xây dựng bao gồm công trình xây dựng công cộng, nhà ở, công trình công nghiệp, giao thông, thuỷ lợi, năng lượng và các công trình khác.
Thiết bị lắp đặt vào công trình bao gồm thiết bị công trình và thiết bị công nghệ. Thiết bị công trình là các thiết bị được lắp đặt vào công trình xây dựng theo thiết kế xây dựng. Thiết bị công nghệ là các thiết bị nằm trong dây chuyền công nghệ được lắp đặt vào công trình xây dựng theo thiết kế công nghệ. Đặc điểm So với các ngành sản xuất khác, ngành xây dựng cơ bản có những đặc điểm về kinh tế - kỹ thuật riêng biệt, thể hiện rất rõ nét ở sản phẩm xây lắp và quá trình tạo ra sản phẩm của ngành.
Những đặc điểm riêng của ngành và đặc điểm sản phẩm xây 9 lắp sẽ chi phối công tác tổ chức quản lý, điều hành. Việc nghiên cứu nắm rõ các đặc điểm này giúp Ngân hàng đưa ra những quyết định chính xác, nắm rõ được những hạn chế và đề ra những phương án khắc phục nhằm nâng cao chất lượng cho vay, nâng cao hiệu quả kinh doanh. a) Về sản phẩm xây lắp - Sản phẩm xây lắp có quy mô lớn, kết cấu phức tạp, mang tính đơn chiếc: Mỗi sản phẩm đều có thiết kế riêng theo yêu cầu của nhiệm vụ thiết kế, mặc dù sản phẩm xây lắp có thể giống nhau về hình thức song về kết cấu, quy phạm thì không giống nhau hoàn toàn nếu xây dựng ở những địa điểm khác nhau, nên mặc dù có thể sản xuất hàng loạt theo mẫu thiết kế thống nhất nhưng chi phí xây dựng không thống nhất. Bên cạnh đó, với đặc điểm quy mô (thể tích) lớn và phức tạp của sản phẩm xây lắp dẫn đến chu kỳ sản xuất dài, vốn đầu tư bỏ vào để xây dựng dễ bị ứ đọng, gây lãng phí, hoặc ngược lại nếu thiếu vốn sẽ làm công tác thi công bị gián đoạn, kéo dài thời gian xây dựng.
Do đó, từ đặc điểm này, yêu cầu công tác quản lý tài chính phải có kế hoạch, tiến độ thi công, dự toán cụ thể cho từng công trình, từng hạng mục công trình và dự toán chi tiết theo thiết kế tổ chức thi công, có biện pháp kỹ thuật thi công tốt để rút ngắn thời gian xây dựng, tiết kiệm vật tư, lao động, tiết kiệm chi phí quản lý để hạ giá thành xây dựng. - Sản phẩm xây lắp có tính chất cố định, nơi sản xuất gắn liền với nơi tiêu thụ sản phẩm: Các tư liệu sản xuất (các máy móc, thiết bị thi công, công nhân,.) phải di chuyển theo địa điểm đặt sản phẩm. Đặc điểm này làm khó khăn cho công tác tổ chức sản xuất. Việc bố trí các công trình tạm phục vụ thi công (lán trại, kho tàng…) phối hợp với các phương tiện, máy móc thiết bị nảy sinh nhiều vấn đề phức tạp và tốn kém.
Do đó, để giảm thiểu lãng phí, thất thoát trên đòi hỏi trước khi khởi công xây dựng công trình phải làm thật tốt công tác chuẩn bị đầu tư và chuẩn bị xây dựng; hiệu quả kinh doanh sẽ phụ thuộc rất lớn vào trình độ tổ chức quản lý của đơn vị xây lắp. - Tính chất hàng hóa của sản phẩm xây lắp không thể hiện rõ: Sản phẩm xây lắp được tiêu thụ theo giá dự toán hoặc giá thỏa thuận với chủ đầu tư (giá đấu thầu), 10 do đó tính chất hàng hóa của sản phẩm xây lắp không thể hiện rõ. Đối tượng hạch toán chi phí cụ thể trong xây lắp là các hạng mục công trình, các giai đoạn của hạng mục hay nhóm hạng mục. Do đó, doanh nghiệp xây lắp phải lập dự toán chi phí và tính giá thành theo từng hạng mục công trình hay giai đoạn của hạng mục công trình.
- Sản phẩm xây lắp liên quan đến nhiều ngành, vùng, địa phương trong quá trình xây dựng và sử dụng: Sản phẩm xây lắp là các công trình được sử dụng các ngành khác. Ví dụ như cầu, đường giao thông xây dựng xong để phục vụ các phương tiện vận tải đi lại; Nhà máy được xây dựng xong phục vụ cho việc sản xuất kinh doanh của các ngành khác. Do vậy, sản phẩm của ngành xây lắp có liên quan trực tiếp và gián tiếp tới nhiều vùng, nhiều địa phương. Từ đó, đòi hỏi cần phải nghiên cứu, đánh giá kỹ lưỡng các góc độ về mặt kỹ thuật, kinh tế, thị trường, các tác động của nó tới các ngành kinh tế khác trước khi triển khai.
b) Về tình hình tài chính của doanh nghiệp xây lắp - Nhu cầu vốn lưu động thường chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nhu cầu vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh: Do tính chất hoạt động của doanh nghiệp xây lắp nên cơ cấu vốn có đặc thù riêng khác với ngành công nghiệp và các ngành khác, cụ thể là nhu cầu vốn lưu động (vốn kinh doanh doanh ngắn hạn) cho hoạt động sản xuất kinh doanh chiếm tỷ trọng lớn nhất. Các Ngân hàng thường cho vay các doanh nghiệp xây lắp chủ yếu để tài trợ vốn lưu động phục vụ thi công các công trình. Đối với nhu cầu đầu tư mới, thay thế và cải tiến máy móc thiết bị, nâng cao năng lực sản xuất, Ngân hàng chỉ tham gia tài trợ một phần, phần còn lại các doanh nghiệp xây lắp phải bỏ vốn tự có của mình. - Tốc độ chu chuyển vốn trong các doanh nghiệp xây lắp thường không cao: Do đặc điểm xây dựng một đơn vị sản phẩm đòi hỏi phải bỏ nhiều chi phí, thời gian thi công kéo dài dẫn đến tình trạng ứ đọng vốn sản xuất ở các hạng mục công trình thi công dở dang.
Khi công trình hoàn thành, công tác nghiệm thu, quyết toán và thanh toán còn phải phụ thuộc vào chủ đầu tư. Các doanh nghiệp xây lắp thường xuyên bị chiếm dụng vốn trong thời gian dài nên tốc độ quay vòng vốn lưu động thường rất thấp, nhu cầu vốn lưu động cần thiết cho thi công lớn. Trong khi đó vốn 11 chủ hữu chiếm tỷ lệ nhỏ trên tổng nguồn vốn nên để đủ vốn hoạt động, các doanh nghiệp xây lắp phải huy động vốn bên ngoài mà chủ yếu là vốn vay ngân hàng. - Khả năng tự chủ về tài chính thấp: Thực tế hiện nay, vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp xây lắp thường chỉ chiếm khoảng 5-20% trong tổng nguồn vốn, còn lại là vốn vay ngân hàng và vốn chiếm dụng khác.
Do đó gánh nặng về chi phí lãi vay lớn gây áp lực đến hiệu quả kinh doanh và tình hình tài chính của doanh nghiệp. Lợi nhuận đạt được không cao nên khả năng bổ sung vốn chủ sở hữu và đầu tư nâng cao năng lực sản xuất thi công thường hạn chế. Trong khi đó, do sản lượng thi công tăng lên cùng với yêu cầu cao về chất lượng công trình đòi hỏi phải có những thiết bị thi công hiện đại nên nhu cầu vốn (cả vốn lưu động và vốn đầu tư trung dài hạn) ngày càng tăng. Vì vậy, các doanh nghiệp xây lắp phải vay ngân hàng ngày càng nhiều để tài trợ cho nhu cầu vốn của mình.
Ngoài ra, trong thực tế hiện nay, để phát triển hoạt động, tăng năng lực tài chính, hiệu quả kinh doanh nhiều doanh nghiệp xây lắp không chỉ hoạt động dưới hình thức nhà thầu thi công mà còn tiến hành đầu tư các dự án đầu tư bất động sản, thủy điện, kinh doanh nhà hàng khách sạn… Do đó, nhu cầu vốn vay của các doanh nghiệp này ngày càng tăng cả về vốn ngắn hạn và trung dài hạn; các ngân hàng khi thẩm định, tài trợ vốn cho doanh nghiệp xây lắp cũng phải chú trọng đến tính chất hoạt động đa ngành, đa nghề của doanh nghiệp xây lắp để quyết định mức cho vay, điều kiện cho vay phù hợp. c) Về rủi ro của doanh nghiệp xây lắp - Hoạt động xây lắp chịu rủi ro do ảnh hưởng của điều kiện thiên nhiên, khí hậu, địa chất, thuỷ văn.: Điều kiện thi công xây dựng chủ yếu là môi trường ngoài trời nên các yếu tố thời tiết, khí hậu sẽ ảnh hưởng rất lớn đến thời gian thực hiện dự án, chất lượng và chi phí thi công. Đặc biệt là điều kiện khí hậu nóng ẩm mưa nhiều tại nước ta, các dự án dễ bị ngưng trệ khi tiến hành vào mùa mưa. Các doanh nghiệp xây lắp không thể lường trước được hết những khó khăn do tác động của thời tiết, khí hậu.
Rủi ro xảy ra tác động tới tiến độ thi công công trình, giá thành công trình, thậm chí cả chất lượng công trình.